Di tích lịch sử

Việt Nam

Mộ Nguyễn Đức Ứng và 27 Nghĩa binh chống Pháp

Từ ngã ba Vũng Tàu, theo quốc lộ 51 nối liền thành phố Biên Hoà với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngôi mộ của Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh chống Pháp nằm về bên trái, cách quốc lộ 51 khoảng 250m, cách trung tâm huyện Long Thành khoảng 7km về hướng Nam. Di tích hiện là kết quả của lần tái thiết vào năm 1936 và các đợt trùng tu, tôn tạo sau này. Sau khi trùng tu tôn tạo năm 2010 khu mộ Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh toạ lạc trên khu đất cao ráo với tổng diện tích là 27.402m2,diện tích trong hàng rào hiện hữu là 3.837m2 (trong đó diện tích xây dựng là 1.262m2), diện tích đất tạo khoảng lùi xây dựng là 4.571m2 và đất chừa đường đi cạnh hông ngoài khu đất là 570m2. Khu mộ có vị trí như sau: Bắc giáp: Khu đất trồng tràm, tre trúc và nhà vườn. Nam: giáp quốc lộ 51. Đông giáp: Vườn tràm và ruộng lúa. Tây giáp: Đường mòn - con đường đi lại trong xã Long Phước. Nhìn tổng thể, toàn khu mộ được bố trí theo một trục chính, lấy theo trục mộ Nguyễn Đức Ứng ra đến quốc lộ 51 hình thành nên khu đất với bề ngang là 65m,được chia đều ra hai bên theo trục chính. Tổng thể khu mộ được bố trí thành năm khu có vị trí như sau: Cổng tam quan, khu nhà đón tiếp khách : diện tích 5.204m2, khu trồng cây lưu niệm: diện tích 2.084m2, khu nhà bia,đền thờ : diện tích 6.438m2, khu mộ chính : diện tích 6.502m2. Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh hy sinh trong cuộc chiến đấu đánh trả quân Pháp xâm lược ngày 26-27 tháng 12 năm 1861. Sau khi Nguyễn Đức Ứng và các Nghĩa binh anh dũng hy sinh, nhân dân Long Thành tìm cách đưa thi hài Ông và các nghĩa binh về an táng trong ngôi mộ chung trên một khu đất cao của khu rừng nguyên sinh, ngay căn cứ kháng Pháp của Ông thuộc xã Long Thuận (nay là xã Long Phước, huyện Long Thành). Theo quan niệm phong thuỷ truyền thống thì ngôi mộ nằm trên gò đất hình lưng quy, vị thế cát địa, ảnh hưởng tốt cho sự an cư lạc nghiệp của dân chúng cư trú trong khu vực. Cũng từ đây, mảnh đất này trở thành nơi yên nghỉ ngàn đời của Ông và các nghĩa binh hy sinh vì Tổ quốc, có thể coi như là nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của huyện Long Thành. Mộ Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh chống Pháp được trùng tu vào các năm 1936, năm 1996 và năm 2010. Kiến trúc xây dựng trong tổng thể khu đất tuân theo định hướng chung, nêu bật được ý tưởng “con nhà võ”. Mái ngói nhà bia và đền thờ mang dáng mái đặc trưng của cung đình Huế, triều đại nhà Nguyễn. Với giá trị đó , khu di tích Mộ Nguyễn Đức Ứng và 27 Nghĩa binh chống Pháp đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 2754-Quyết Định /Bộ Trưởng ngày 15 tháng 10 năm 1994. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Đồng Nai 3402 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Di tích Thành cổ Biên Hòa

Tọa lạc tại phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đây được xem là thành cổ duy nhất ở Nam Bộ còn tồn tại đến ngày nay. Dấu tích còn sót lại của ngôi thành xưa là một vòng thành được xây dựng bằng đá ong bao quanh khuôn viên rộng 10.816,5 m², bên trong có ngôi nhà kiến trúc theo kiểu Pháp. Thành cổ Biên Hòa còn có các tên gọi khác là Thành Cựu, Thành Kèn hay Thành Xăng Đá, xưa thuộc thôn Bàn Lân (Tân Lân), huyện Phước Chánh, tỉnh Biên Hòa. Ban đầu, Thành Biên Hòa được nhân dân và binh lính Lạp Man Chân Lạp đắp bằng đất vào khoảng thế kỷ 14 -15. Sau đó, vào đầu thời Nguyễn, đến năm 1834, vua Minh Mạng cho xây lại bằng đất, gạch và đá ong, theo hình cánh cung, xây dựng mới một số hạng mục, đặt tên là Thành Cựu. Đến năm 1837, vua Minh Mạng tiếp tục cho xây dựng mở rộng Thành Cựu bằng đá ong theo kiểu Vauban, đổi tên là Thành Biên Hòa. Nhận thấy vị trí địa lý thuận lợi về mặt chiến lược của Thành Biên Hòa, thực dân Pháp đã tập trung binh lực hùng hậu nhằm chiếm đóng tòa thành này. Năm 1861, thực dân Pháp đánh chiếm Biên Hòa. Quan quân nhà Nguyễn kháng cự không thành nên rút lui khỏi Thành Biên Hòa. Sau khi chiếm thành, thực dân Pháp đã bắt tay cải tạo, thu hẹp diện tích thành còn lại 1/8 so với trước kia; đồng thời cho xây dựng các cơ sở an ninh, quân sự bên trong và bên ngoài thành, như: doanh trại, nhà thương, sở an ninh quân đội, bãi tập, bãi bắn, phòng giam, phòng làm việc…; bố trí các sĩ quan cấp cao, binh lính để trấn giữ, bảo vệ, làm việc trong suốt thời gian cai trị, khai thác thuộc địa và gọi tên là Thành Xăng - Đá (Solda), nhân dân địa phương thường gọi là Thành Kèn. Năm 1944, thành rơi vào sự kiểm soát của phát xít Nhật. Sau khi quay lại Đông Dương lần 2, Pháp đã trưng dụng nơi đây làm trại gia binh. Đến giai đoạn 1954-1975, thành không có nhiều thay đổi về diện mạo, đế quốc Mỹ sử dụng lại toàn bộ các công trình do thực dân Pháp để lại. Sau năm 1975, thành Biên Hòa do chính quyền mới tiếp quản. Những dấu tích còn lại tại di tích Thành Biên Hòa ngày nay nổi bật là vòng thành được xây dựng bằng đá ong và hai ngôi nhà có kiến trúc theo kiểu Pháp. Cụ thể, các hạng mục còn sót lại bao gồm: phần tường thành được xây dựng chủ yếu từ đá ong đỏ, gạch thẻ với chất kết dính là vôi vữa. Hệ thống lô cốt hiện còn một số lô cốt được xây bằng đá ong và gạch thẻ ở góc Đông thành. Biệt thự phía Tây Bắc, một trong những hạng mục còn sót lại của công trình kiến trúc thành Biên Hòa xưa gồm 1 tầng trệt và 2 tầng lầu được xây dựng theo kiểu kiến trúc Pháp dùng làm nơi ở và làm việc của sĩ quan Pháp. Biệt thự có kết cấu kiến trúc chắc chắn với tường chịu lực, mái lợp ngói móc, dàn mái xà gồ thép kết hợp cầu phong gỗ, sàn lát gạch, lanh tô vòm cuốn gạch, cửa mái thông gió đều được thực hiện với tính thẩm mỹ về nghệ thuật, sự khéo léo về kỹ thuật, đảm bảo tính chịu lực tốt cho công trình. Biệt thự phía Đông Nam với diện tích khoảng 200m2, gồm 1 trệt và 1 lầu, dùng làm nơi ở và làm việc của các sĩ quan Pháp lúc bấy giờ. Ngày nay, sau lần trùng tu gần nhất vào năm 2014, tổng thể di tích đã trở nên khang trang, trở thành địa điểm tham quan thu hút du khách gần xa. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, di tích Thành Biên Hòa là chứng nhân cho nhiều sự kiện và biến cố trong lịch sử của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Bắt đầu từ các cuộc giao tranh giữa các vương quốc Phù Nam, Chân Lạp, Chăm Pa (thế kỷ1-15) đến cuộc chiến giữa nhà Nguyễn với quân Tây Sơn (thế kỷ XVIII) và sau này là cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đồng thời, đây cũng được xem là công trình thành cổ hiếm hoi còn tồn tại ở khu vực Nam Bộ cho đến ngày nay. Ngoài ra, di tích còn có giá trị trên nhiều mặt khi vừa là công trình kiến trúc quân sự đặc biệt, có vị trí chiến lược ở vùng Đông Nam Bộ của nhà Nguyễn; vừa phản ánh kỹ thuật xây dựng khoa học, đường nét kiến trúc Pháp trong tổng thể các hạng mục hiện tồn. Đồng thời, thể hiện sự am hiểu về phong thủy theo cách nhìn địa chính trị của người xưa. Với những giá trị lịch sử đó , Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch ban hành Quyết định số 3995/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch ngày 12-11-2013 công nhận Thành cổ Biên Hòa là di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đồng Nai 3721 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Văn miếu Trấn Biên

Văn Miếu Trấn Biên hiện tọa lạc tại phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Lịch sử Văn Miếu Trấn Biên gắn liền với công cuộc mở cõi về phương Nam của các chúa Nguyễn. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý xứ Đồng Nai và sáp nhập vùng đất này vào nước Việt. 17 năm sau, tức năm 1715, chúa Nguyễn Phúc Chu cho xây Văn Miếu Trấn Biên, để thể hiện tư tưởng tôn vinh Nho giáo, phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo, kính trọng hiền tài và tiếp nối truyền thống văn hóa của người Việt ở phương Nam. Công trình đã có hai lần trùng tu lớn là năm 1794 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Ánh, và năm 1852 thời vua Tự Đức. Năm 1861, thực dân Pháp đánh chiếm Biên Hòa và đã phá bỏ công trình này. Mãi tới năm 1998 – kỷ niệm 300 năm thành lập và phát triển vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai; Văn Miếu Trấn Biên mới được phục dựng trên nền đất cũ có diện tích khoảng 5 ha, trong đó khu thờ chính rộng 2 ha và hoàn thành xây dựng sau 4 năm. Văn Miếu Trấn Biên được phục dựng theo các tư liệu cổ như Đại Nam Nhất Thống Chí, Gia Định Thành Thông Chí. Các hạng mục công trình được xây đối xứng theo một trục thần đạo; lần lượt từ ngoài vào là Văn Miếu Môn, nhà bia, Khuê Văn Các, hồ Tịnh Quang, Đại Thành Môn, tượng Khổng Tử, sân hành lễ, Nhà thờ chính. Hai bên có các nhà tả - hữu là nhà Đề danh - nhà truyền thống, Thư khố - Văn vật khố. Công trình được xây với vật liệu mới nhưng vẫn tuân theo phong cách truyền thống. Ở trên Khuê Văn Các có thể ngắm toàn cảnh quần thể công trình. Ô cửa tròn tượng trưng cho sao Khuê (tương tự Khuê Văn Các trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội) đã được tái hiện ở Văn Miếu Trấn Biên. Phía sau Khuê Văn Các là một hồ rộng có tên Tịnh Quang. Các công trình ở đây đều được lợp ngói thanh lưu ly (ngói men màu xanh ngọc). Các công trình có bố cục hài hòa. Xen giữa các công trình là cây xanh lấy bóng mát và nhiều loại cây cảnh, cùng mặt nước tạo nên một không gian thoáng đãng. Tiếp theo, sau hồ Tịnh Quang là Đại Thành Môn. Đây là một hạng mục kiến trúc đặc trưng của các Văn Miếu, dẫn vào khu thờ chính. Đại Thành Môn có kiến trúc kiểu tam quan, mái ngói; hai phía có tường gạch hoa. Sau Đại Thành Môn là tượng Khổng Tử - ông tổ của Nho giáo, đặt dưới một kiến trúc có mái, tiếp theo là sân hành lễ và nhà thờ chính. Tượng Khổng Tử được tạc bằng đá nguyên khối, thực hiện theo mẫu từ Di sản thế giới Khúc Phụ (tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Nhà thờ chính là một kiến trúc 7 gian, hai chái với 3 tầng mái; có nhiều chi tiết đậm tính dân tộc, bên trong cột, kèo và các bao lam, hoành phi, câu đối được sơn son thếp vàng. Đây là nơi thờ tự những danh nhân văn hóa Việt Nam. Phía trước là sân rộng để hành lễ và tổ chức các sự kiện văn hóa. Gian chính giữa nhà thờ là nơi thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Gian bên trái là nơi đặt bài vị và thờ tự những danh nhân văn hóa gắn liền với vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai và Nam Bộ xưa; bên phải là nơi đặt bài vị và thờ tự danh nhân văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. Phía trước hai bên nhà thờ chính là: Văn vật khố (nơi trưng bày 4 làng nghề truyền thống của Biên Hòa – Đồng Nai: nghề đồng, nghề mộc, nghề đá, nghề gốm); đăng đối với Văn vật khố là Thư khố - nơi trưng bày các thư tịch cổ, các tài liệu, sách báo... viết về lịch sử, văn hóa, con người vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai xưa và nay. Ngày 18/8/2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyết định về việc xếp hạng cấp Quốc gia với Di tích lịch sử Văn Miếu Trấn Biên. Văn Miếu Trấn Biên là một địa chỉ văn hóa đặc biệt ở Biên Hòa (Đồng Nai). Với không gian thoáng đãng và kiến trúc đặc sắc, đậm truyền thống văn hóa, hiếu học; nơi đây là điểm tổ chức nhiều sự kiện của địa phương như lễ Tết thầy cho học sinh, lễ hội hoa xuân, lễ hội báo xuân, lễ hội thơ, lễ báo công, lễ viếng tiền nhân… Đây là nơi bảo tồn, gìn giữ và tôn vinh các giá trị truyền thống, là nơi tưởng nhớ tổ tiên của người Việt ở phương Nam. Nguồn Cổng thông tin điện tử thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đồng Nai 3821 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Di tích Nhà hội Bình Trước

Di tích nhà hội Bình Trước thuộc xã Bình Trước, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. Đây là một công trình kiến trúc đặc biệt của hương chức hội tề làng xã trước năm 1945. Nhà Hội được xây dựng vào khoảng năm 1936 dưới sự chủ trương của tỉnh trưởng Biên Hòa là Bolen. Nhà hội Bình Trước đã trở thành nơi họp và làm việc của hương chức hội tề địa phương. Có vị trí gần trung tâm thành phố, Nhà hội Bình Trước thu hút sự chú ý với kiến trúc dân gian uyển chuyển. Xây dựng bởi nghệ nhân về gốm và xây dựng của Biên Hòa, di tích này nổi bật với các tác phẩm gốm điêu khắc và kiến trúc gỗ tinh xảo, phản ánh nét đẹp của nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Mặc dù không phải là đình chùa, nhưng Nhà hội Bình Trước vẫn thể hiện nét trang nghiêm và độc đáo của kiến trúc đình làng, kết hợp nhiều nét đặc trưng của nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn. Với diện tích 187,50m2, kiến trúc của nhà hội có mái ngói âm dương, trang trí gỗ và các bức phù điêu gốm tinh xảo. Đặc biệt hơn, Nhà hội Bình Trước còn ghi dấu sự kiện quan trọng trong lịch sử Biên Hòa. Vào ngày 23-9-1945, Hội nghị cán bộ tỉnh Biên Hòa đã quyết định thành lập Tỉnh ủy đầu tiên sau khi giành được chính quyền vào tháng Tám. Đây là một trong những sự kiện quan trọng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. Di tích nhà hội Bình Trước đã được nhà nước ta công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 30/12/1991. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai.

Đồng Nai 3362 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Chùa Đại Giác( Đại Giác cổ tự)

Chùa Đại Giác còn gọi là Đại Giác cổ tự, chùa Phật lớn hay chùa Tượng; xưa thuộc thôn Bình Hoành, xã Hiệp Hòa, tổng Trấn Biên; nay là khu phố Nhị Hòa, phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Chùa Đại Giác có diện tích khoảng 3.000 m2 với hai cổng xây bằng gạch ra vào, xung quanh có tường rào bao bọc. Sau nhiều lần trùng tu, hiện nay chùa cất theo lối chữ tam (三) với ba dãy nhà ngang nối liền nhau. Mặt tiền chùa quay theo hướng Tây Bắc nhìn ra sông Đồng Nai. Giữa sân trước chùa là một cây bồ đề lớn, do Hòa thượng Đinh Tông trồng vào ngày rằm tháng 11 năm Kỷ Mão (1939) và pho tượng Phật Quan âm Nam Hải đứng trên tòa sen. Bên tả và phía sau là khu vườn rộng trồng cây trái, bên hữu là khu bảo tháp với nhiều mộ tháp của các vị trụ trì viên tịch. Tuy bên ngoài, mái hiên chùa thấp và có lối kiến trúc hiện đại, nhưng bên trong chùa, vẫn còn theo kiểu mẫu của các chùa xưa ở vùng Đồng Nai, với các cột tròn và cao vút, tạo không gian thoáng đãng. Chùa gồm chánh điện, nhà khách, phòng chư tăng, trai đường và nhà bếp. Chánh điện là căn nhà ba gian rộng lớn, dùng để thờ. Gian giữa: ở trên cao là đức tượng Phật A-di-đà bằng gỗ cao 2,25 m, phía dưới là tượng Phật Thích-ca Mâu-ni và Phật Di-lặc. Phía gần cửa ra vào là giàn đèn Phật Dược Sư gồm 49 cây đèn dầu nhỏ với 49 tượng Phật bằng gỗ nhỏ, chân giàn đèn chạm trổ rất mỹ thuật. Gian bên trái là khánh thờ tổ sư Bồ-đề-đạt-ma. Gian bên phải là khánh thờ Quan thánh đế quân. Hai bên vách, mỗi bên thờ năm vị Diêm vương và hai Phán quan. Phía sau chánh điện là bàn thờ các tổ sư từng hoằng hóa ở chùa, gồm nhiều long vị của các Thiền sư phái Lâm Tế, trong đó có long vị của chư tổ xưa nhất các là Thiền sư: Thành Đẳng (phái lâm tế đời 34), Phật Ý-Linh Nhạc, Giác Liễu-Thiệt Truyền (đời 35), Tổ Ấn-Mật Hoằng (đời 36)... Nối liền với chánh điện là nhà khách, có thờ phật Chuẩn Đề, Linh Sơn thánh mẫu... Chùa Đại Giác cùng với chùa Bửu Phong và chùa Long Thiền là ba công trình kiến trúc tôn giáo Việt, được khởi dựng sớm nhất ở Đồng Nai và là chứng tích cho bước đường Nam tiến ở nửa đầu thế kỷ 17 của ba nhà sư thuộc dòng Lâm Tế ở Đàng Trong. Ngoài giá trị này, ở chùa Đại Giác còn có các tượng Phật, hoành phi, liễn đối, phù điêu...mang nhiều đề tài phong phú, được chạm khắc công phu, sơn son thiếp vàng. Tất cả đã thể hiện tài năng nhân chạm khắc của người tạo tác và phản ánh được ít nhiều nền mỹ thuật truyền thống vùng Đông Nam Bộ. Với những giá trị kể trên, chùa Đại Giác đã được xếp hạng là Di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia theo quyết định số 993/Quyết Định, ký ngày 28 tháng 9 năm 1990. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai.

Đồng Nai 3420 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Di tích khảo cổ Dốc Chùa

Di tích khảo cổ Dốc Chùa là di tích cấp Quốc gia xếp hạng năm 2001 (Quyết Định 53/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao ngày 28/12/2001), nằm trên bờ sông Đồng Nai, trên đường liên tỉnh lộ Tân Uyên đi Lạc An, thuộc ấp Tân Hòa, xã Tân Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên. ​Qua những đợt khai quật đã hình thành nhiều bộ sưu tập hiện vật có giá trị lịch sử và khoa học rất lớn. Các công cụ sản xuất bằng đá, gốm, đồng,… đặc biệt một bộ sưu tập gồm 76 khuôn đúc đồng và 68 công cụ vũ khí bằng đồng đã phát hiện trong di tích. Dốc Chùa trở thành một sưu tập hiện vật quan trọng biểu hiện cho một đỉnh cao phát triển của thời tiền sử vùng Đông Nam Bộ. Một di tích đa dạng và phong phú có nhiều yếu tố mới, sự hội tụ về kinh tế, kỹ thuật của xã hội phát triển cao, có niên đại từ 2500 – 3000 năm cách ngày nay. Trong đó, có Tượng Thú được công nhận Bảo vật quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Dương.

TP Hồ Chí Minh 2397 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Di tích khảo cổ Cù Lao Rùa

​​Cù Lao Rùa thuộc phường Thạnh Hội, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Xếp hạng di tích quốc gia năm 2009 (Quyết Định số 836/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch ngày 03/3/2009). ​​Di tích có niên đại phát triển qua hai giai đoạn (sớm từ 3500 – 3000; muộn từ 3000 – 2700 năm cách ngày nay). Tổng diện tích 277 hecta, độ cao 15m so với mặt bằng khu vực. Đây là một trong những điểm khảo cổ học được phát hiện đầu tiên ở miền Đông Nam Bộ, qua các cuộc khai quật khảo cổ phát hiện Cù Lao Rùa là khu di tích cư trú - mộ táng, với nhiều công cụ bằng đá, đồ gốm và hàng ngàn mảnh gốm vỡ các loại và nhiều mộ táng. Trải qua hơn 100 năm nghiên cứu, Cù Lao Rùa đã góp phần quan trọng bảo tồn di sản văn hoá thời tiền sử và danh thắng tỉnh Bình Dương. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Dương.

TP Hồ Chí Minh 2342 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Nhà cổ Trần Công Vàng

Ngôi nhà tọa lạc tại số 21, đường Ngô Tùng Châu, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, trên một khu đất rộng 1.333m2, riêng phần chính (nhà trên) là 323m2, nhà phụ (nhà dưới) chiếm 119m2, được xây cất và hoàn thành vào khoảng năm 1889 – 1892. Ngôi nhà được công nhận di tích cấp Quốc gia ngày 07/01/1993. Nhà quay mặt về hướng Nam, lưng dựa vào ngọn đồi (nơi có trụ sở Ủy ban nhân dân Tỉnh bây giờ), đây cũng là cái thế đắc địa, nói theo các nhà phong thủy xưa. Xét về mặt vị trí địa lý của ngôi nhà cụ Vàng cũng như hai ngôi nhà cổ nữa của cánh họ Trần ở phường Phú Cường đều nằm gần con sông Sài Gòn, rất thuận tiện cho việc chuyên chở cây gỗ từ rừng về. Được biết, nội tổ của cụ Vàng đã từng làm nghề rừng, có trại cưa, xẻ gỗ. Công trình xây dựng theo kiến trúc kiểu chữ đinh nghịch, tức là phần nhà ngang nằm bên trái nhà trên, thay vì nằm bên phải. Đây là nhà chữ đinh có cải tiến, có bộ phận sân con ngăn cách nhà trên và dưới, liên lạc giữa hai bộ phận bằng một nhà cầu nhỏ cắt đôi sân con làm hai phần cửa của nhà dưới trổ ra nơi đầu sân con ấy mà không trổ ra ở đầu hồi, cái cửa này cũng được kiến trúc một cách đặc biệt, mới nhìn giống như một số cổng đền người Hoa, nhưng chủ nhân lại bảo phóng theo kiểu đền của Ấn Độ. Cũng như nhiều nhà khác, nhà cụ Vàng có bộ khung sườn làm theo kiểu nhà xuyên trính, nhưng có đến 8 đấm, 8 quyết ở hai chái nhà. Bộ trính, trổng, cối đều được đẻo gọt khéo léo, trính uốn xong có tạo gờ, các đoạn kèo được chạm tỉ mỉ, công phu, hàng lá dung thẳng tắp ở hàng cột thứ ba. Toàn phần nhà trên đếm được 48 cây cột tròn, tất cả đều đứng xa vách. Phần trang trí bên trong ngôi nhà là phần làm cho du khách thích thú nhất, đó là sự chạm khắc công phu, từ chân cột đến mái nhà, bàn ghế tủ ghế, trang thờ các khung cửa các ô lồng… hoành phi, liễn, đối, những bức tranh tứ bình, những tấm thủ quyển… tất cả đều chạm trổ, sơn thếp cẩn xà cừ công phu khéo léo, làm cho ngôi nhà tráng lệ mà trang nghiêm. Nhìn chung, những mô típ chạm khắc ở đây thường mang tính ước lệ, tượng trưng, trong đó thể hiện ước muốn một cuộc sống bình yên, hạnh phúc, và một nết sống nhân nghĩa, đạo đức… Những đường nét chú trọng sự uyển chuyển, mềm mại. Các hình ảnh chạm khắc gồm cây cỏ, hoa lá, chim thú, vật dụng, những đường hình học. Riêng tấm thủ quyển treo ở bàn thờ bên phải từ trong nhìn ra chạm hình Tùng Lộc, Mã Dương có kèm theo hai câu thơ chữ Hán tạo được cái vẻ thanh thoát, nhã đạm, tiêu sái. Phân bố mặt bằng của ngôi nhà,Trước hết là nhà trên, nhà có 5 gian hai chái, phần thờ phụng, tiếp khách, các buồng để ở và chứa đồ đạc của cải được ngăn chia rạch ròi. Phần thờ phụng chiếm ba gian dựa theo nguyên tắc gian bên trái thờ cha mẹ của chủ nhà, bên phải thờ ông bà, bàn thờ giữa thờ ông bà cao hơn gọi chung là gia tiên. Mỗi bàn thờ gồm tủ thờ cẩn xà cừ, bên trên là đồ ngũ sự, bên trong là bài vị hoặc chân dung người quá cố, sát vách lụa là bức thờ, trên có bài châm, câu đối, đầu bức thờ có phần Mi chạm “Lưỡng long tranh châu” và tấm thủ quyển. Hai gian hai bên là phòng ngủ của vợ chồng chủ nhân, phía sau vách thờ là dãy buồng chứa đựng đồ đạc... Trên các bàn thờ là những trang thờ có đặt các bài vị, đề quan thánh đế quân, thổ công, đông trù, tư mệnh, phước đức thánh thần, tài thần. Phần dành để tiếp khách gồm hai lòng căn (tức từ hàng cột thứ hai đến hàng cột thứ tư), nơi đây có đặt bàn ghế để tiếp khách, bao gồm ở gian giữa làm một bàn tròn lớn, mặt bàn lót đá cẩm thạch, trên bàn đặt giá Bát bửu (tám món binh khí cổ), chung quanh bàn có đặt ghế với chạm trổ tinh vi và giàu ý nghĩa tượng trưng. Hai bên bàn tròn ấy là những bàn hình chữ nhật đóng theo kiểu ghế chân nghi. Ở gian đầu là hai bàn hình hộp xoài, chung quanh đặt ghế kiểu hiện đại, tất cả các bàn ghế đều bằng gỗ. Dọc theo vách ngăn giữa phần tiếp khách và phần thờ có đặt những bàn nhỏ hình vuông bên trên có những đĩa trái cây bằng sứ, cũng nơi đây chủ nhân cho đặt một tấm Phả đồ nêu khái quát thế thứ của những người trong họ. Ở hai đầu chái nhà cũng có đặt bàn, bên trái trên bàn thờ để ảnh chủ nhân, có cặp đôi hai bên, bộ tranh tứ bình cở nhỏ, cặp câu đối và tranh tứ bình. Đặc biệt, trước của buồng ngủ đặt một cái tủ kiếng, bên trong chứa nhiều món quý như tiền cổ, nón quai thao, đồ cho cô dâu khi về nhà chồng, theo kiểu xưa… Nhà dưới là một căn nhà ngang, cất theo lối xuyên trính nhưng đơn giản hơn nhà trên. Nhà ngang dùng để tiếp khách bình thường, là nơi sinh hoạt gia đình, nhà ăn, nhà bếp,… phía trước nhà ngang là nhà xe hướng cửa ra cổng. Sân trước trồng nhiều chậu hoa kiểng, cây kiểng… tôn thêm nét đẹp cổ kính của ngôi nhà. Nhà cụ Vàng vừa mang tính nghệ thuật – nhân văn đậm nét văn hóa truyền thống Việt Nam; đồng thời, khẳng định kỹ thuật điêu khắc, chạm trổ đã có truyền thống lâu đời ở Bình Dương. Các hiện vật trang trí và đồ dùng trong nhà còn nhiều và hầu hết là cổ vật. Toàn bộ kiến trúc ngôi nhà và hiện vật bên trong, cho ta thấy được nét sinh hoạt của gia đình thuộc tầng lớp giàu có ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, thể hiện sự phát triển về đời sống của cư dân người Việt trên đất Bình Dương. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Dương.

TP Hồ Chí Minh 2377 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Di tích Căn cứ Dương Minh Châu

Di tích Căn cứ Dương Minh Châu tọa lạc tại xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Dương Minh Châu là tên gọi của đồng chí Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Tây Ninh đầu tiên đã hi sinh anh dũng trong trận càn của Pháp vào căn cứ Bến Cây Chò (nay thuộc ấp Gò Nổi, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh). Ngày 07/02/1947 để khắc ghi công ơn và tưởng nhớ đồng chí, tỉnh đã lấy tên Dương Minh Châu đặt tên cho căn cứ. Chủ trương xây dựng căn cứ, nơi đứng chân xây dựng căn cứ lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài đã được tỉnh Tây Ninh đặt ra khá sớm, từ những ngày đầu chuẩn bị khởi nghĩa Nam kỳ. Đến năm 1948 do yêu cầu của cuộc kháng chiến tỉnh quyết định chọn vùng Trà Vong làm căn cứ địa của tỉnh bao gồm khu 4, khu 6, thêm phần đất của các xã Ninh Thạnh, Hảo Đước và Hòa Hiệp. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước tình hình nhiệm vụ mới, địa bàn căn cứ Dương Minh Châu tiếp tục mở rộng, phát triển rộng về phía Tây Bắc và phía Bắc biên giới Campuchia. Căn cứ Dương Minh Châu có vị trí địa thế được đánh giá là chiến lược quan trọng, hội tụ các tính chất của ba vùng chiến lược, trong đó vùng rừng núi chiếm vị trí đặc biệt, có thể liên hoàn ở phía sau, là một vùng rừng già rộng lớn ăn thông lên biên giới Campuchia, liên quan mật thiết với chiến khu D. Vùng rừng núi này đủ điều kiện “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” thuận lợi cho ta xây dựng căn cứ kháng chiến và cả hệ thống căn cứ vệ tinh xa, gần, tạo thế hậu phương chiến lược, vừa thuận lợi với việc chỉ huy, chỉ đạo cuộc kháng chiến toàn miền. Căn cứ Dương Minh Châu như một cái gai đâm vào mắt kẻ thù. Địch rắp tâm “bình định”, “tiêu diệt”, còn ta quyết tâm bảo vệ, giữ vững vùng “đất thánh”, huyện căn cứ Dương Minh Châu và các vùng căn cứ liên hòan vừa là hậu phương, vừa là chiến lược nóng bỏng, giằng co giữa ta và địch trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ từ chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Căn cứ Dương Minh Châu là một trong những nơi tập kết của quân chủ lực tiến công giải phóng Sài Gòn. Trên thế tiến công thần tốc quân dân Dương Minh Châu cùng với quân dân Tây Ninh tự giải phóng mình, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Di tích Căn cứ Dương Minh Châu đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 61/1999/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao ngày 13/9/1999 của Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Nguồn Trang thông tin điện tử Xã Thạnh Tân, tỉnh Tây Ninh.

Tây Ninh 3265 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Căn cứ Ban an ninh Trung ương cục miền Nam

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ khi thành lập tháng 7/1960. Ban An ninh miền là cơ quan trực thuộc Trung ương Cục miền Nam, liên tục bám trụ và xây dựng căn cứ Ở chiến khu Bắc Tây Ninh. Qua 15 năm chiến đấu và trưởng thành với 8 lần di chuyển và xây dựng căn cứ. Cuối năm 1972, Ban An ninh về đóng tại Bảy Bàu, xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh cho đến ngày 30/4/1975. Khu di tích căn cứ Ban An ninh Trung ương cục miền Nam đã được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 3777/Quyết Định -Bộ Trưởng ngày 23/12/1995 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch). Trong khu tôn tạo còn có 32 nhà bia của lực lượng an ninh các tỉnh miền Nam từ Quảng Trị đến Cà Mau. Mỗi địa phương một phong cách, một biểu tượng riêng, khắc hoạ hình tượng truyền thống đặc thù của mỗi vùng đất, nhưng đều tập trung và nêu bật bản anh hùng ca từ “Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng, đến Tây Nguyên bất khuất, đến Quảng Đà trung dũng kiên cường. Từ vũng Rô nối sóng đến quê hương đồng khởi Bến Tre, từ Ấp Bắc anh hùng đến Hòn Đất kiên trung, từ Rừng Sác-Nhà Bè đến Bình Long, Phước Long xây chiến thắng. Từ U Minh, Đồng Tháp đến Củ Chi đất thép thành đồng đều hội tụ về Tây Ninh, nơi căn cứ Bảy Bàu một thời kháng chiến”. Đây là khu di tích, một địa điểm du lịch khá hấp dẫn, bởi cảnh quan rừng chiến khu được bảo tồn nguyên vẹn, các hầm hào, đường đi, nhà ở được trùng tu tôn tạo kịp thời với nhiều công trình đẹp, nhất là tượng đài cao vót hoà quyện vào không gian cây rừng bao la tạo một vẻ đẹp hùng vĩ khắc hoạ bao chiến công oanh liệt của cách mạng miền Nam. Nguồn Trang thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh.

Tây Ninh 3106 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở