Chùa cổ Long Bàn còn gọi là chùa làng Long Điền (xưa thuộc tổng An Phú Thượng, quận Long Điền) ở thôn Long Phượng, Thị Trấn Long Điền, huyện Long Điền. Chùa tọa lạc trên một khu đất cao tương đối bằng phẳng. Trải qua gần 175 năm xây dựng chùa vẫn gần như nguyên trạng, lưu giữ những nét kiến trúc văn hóa nghệ thuật đặc sắc. Chùa được xây dựng vào năm Thiệu Trị thứ 5 - năm Ất Tỵ 1845 do 2 vị hòa thượng Hải Chánh và Bảo Thanh làm trụ trì đầu tiên và được dân làng tôn làm tổ sư. Kiến trúc chùa Long Bàn nguy nga, tráng lệ với những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc mang đậm nét truyền thống độc đáo, lưu giữ văn hóa tâm linh, thờ phượng Phật pháp. "Theo truyền thuyết, vùng đất Long Điền trước kia có 9 con rồng chầu. Ngôi chùa được xây dựng trên phần cuối cùng của dãy núi Thùy Vân, có nhiều tảng đá tự nhiên phẳng như bàn thạch nên dân làng đặt tên là chùa Long Bàn", sư thầy Thích Pháp Minh diễn giải. Ngôi chùa được xây cất theo kiểu chữ "Tam", mang phong cách Á Đông gồm 3 lớp nhà song song là tòa Giảng đường, tòa Chánh điện, nhà Tổ. Khuôn viên chùa bằng phẳng, rộng hơn 3.000m2 với nhiều cây cổ thụ tỏa bóng mát. Cổng chùa được xây dựng mới năm 1963 bằng đá hoa cương. Cửa 2 bên cuốn vòm, phía trên là lầu chuông và lầu trống. Phía trên 2 trụ cổng là tấm biển có hàng chữ "Long Bàn Cổ Tự". Trước tòa Chánh điện của chùa có ngôi nhà sàn bằng gỗ, trong đặt tượng "Tiêu Diêu Đạo Sĩ". Mái chùa được lợp ngói âm dương, đầu ngói có gờ viền bằng gốm men xanh. Trên đỉnh nóc chùa có gắn tượng "Lưỡng Long chầu nguyệt" và các bức tranh vẽ phong cảnh sơn thủy, hoa lá. Các kèo, cột bên trong chùa sử dụng hoàn toàn bằng gỗ tốt. Bên trong tòa Chánh điện, ở gian giữa thờ Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni, Quan Âm, Thế Chí, Ngọc Hoàng, Di Lặc, Bồ Tát. Gian bên trái thờ vị sư Tổ Bồ Đề Đạt Ma, gian bên phải thờ Quan Thánh. Ngoài ra, tại đây còn có bàn thờ La Hán và Thập điện Diêm Vương. Phía sau Chánh điện là nhà thờ Tổ, thờ Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma và 2 bài vị của hòa thượng Hải Chánh và hòa thượng Bảo Thanh. Tòa Giảng đường rộng 227m2, mặt trước có những câu đối khắc chìm bằng sơn đen. Phía trên 3 cửa ra vào gần sát mái là những ô trang trí, miêu tả hoa, núi và các hoạt động của con người. Đây là nơi thuyết pháp về đạo Phật, làm đàn chay cúng cô hồn, tổ chức các giờ kinh sám hối. Đã trải qua gần 175 năm xây dựng, nhưng chùa Long Bàn vẫn còn lưu giữ được nhiều hiện vật lâu đời quan trọng như các pho tượng Phật, Ngọc Hoàng Thượng đế, Quan Thánh đế, 18 vị La Hán, Long Thần, Hộ Pháp… bằng gỗ mít; 8 khuôn in kinh khắc chữ Hán trên gỗ; các quả chuông, trong đó có đại hồng chung bằng đồng đường kính 0,4m, cao 1,2m, niên đại hơn 150 năm. Chùa Long Bàn với vẻ đẹp độc đáo về kiến trúc cổ, điêu khắc nghệ thuật mang giá trị văn hóa tâm linh lâu đời, tọa lạc giữa không gian hòa quyện với thiên nhiên tươi đẹp, ngôi chùa trở thành điểm đến tín ngưỡng Phật pháp của người dân địa phương và du khách gần xa. Năm 1991, chùa cổ Long Bàn được Bộ Văn Hóa -Thể Thao công nhận là di tích lịch sử - văn hóa - danh lam thắng cảnh cấp Quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
TP Hồ Chí Minh 2597 lượt xem
Bạch Dinh được dùng làm nơi nghỉ dưỡng và hội họp cho toàn quyền Pháp ở Đông Dương và quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn sau này. Đây cũng chính là nơi giam lỏng vua Thành Thái (từ 1909-1910), một vị vua có tư tưởng yêu nước, chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp. Được tọa lạc ở vị trí cao ráo cách mực nước biển gần 30m, từ tiền sảnh Bạch Dinh nhìn xuống, du khách sẽ có cảm giác như đang ở tầng lầu của một tòa cao ốc xây dựng trên mặt nước biển, có thể phóng tầm mắt bao quát cả trung tâm thành phố Vũng Tàu. Có hai lối lên Bạch Dinh: Một đường uốn quanh chạy dưới rừng cây giá tỵ dành cho xe hơi lên tới tiền sảnh. Một đường đi bộ qua 146 bậc tam cấp cổ xưa, kín đáo nằm giữa hai hàng sứ cao niên. Bạch Dinh với lối kiến trúc Châu Âu cuối thế kỷ 19, cao 19m, rộng 15 m, dài 28 m, gồm 3 tầng: Tầng hầm làm nơi nấu nướng; tầng trệt vừa làm nơi khánh tiết vừa dùng bày trí một số hiện vật cổ xưa như: Song bình bách điểu chầu phụng, bộ tràng kỷ hoàng gia có niên đại Khải Định (1921), cặp ngà voi châu phi dài 170cm… Tầng lầu thoáng hơn dành cho việc nghỉ dưỡng. Nhưng có lẽ ấn tượng hơn cả là 8 bức chân dung tạc các vị thần Hy Lạp thời cổ đại, từ gương mặt, mắt mũi đến sắc thái đều biểu hiện rõ ràng, sắc nét và tinh tế. Trải qua hơn thế kỷ, với bao biến đổi của thời gian, Bạch Dinh vẫn giữ nguyên tính sang trọng, hài hòa và uy nghiêm hiếm thấy. Từ năm 1991 đến nay một phần của Bạch Dinh được dùng làm bảo tàng, trưng bày 8.000 hiện vật độc bản nằm trong bộ sưu tập cổ vật gốm sứ có niên hiệu Khang Hy (Thế Kỷ 17) được trục vớt từ “kho báu Hòn Cau”. Các nhà khảo cổ cho biết số cổ vật này nằm dưới đáy biển gần 300 năm, tính đến thời điểm trục vớt nhưng vẫn giữ được màu men tuyệt đẹp. Nếu đem so với những bộ sưu tập khác được trục vớt trong vùng biển Cù Lao Chàm, Cà Mau, Bình Thuận… bộ sư tập cổ vật Hòn Cau vẫn luôn được đánh giá là bộ sưu tập đẹp nhất. Bạch Dinh không chỉ làm mê mẩn toàn quyền Pháp ở Đông Dương Paul Doumer, các quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ mà cho đến thời điểm hiện tại thì đây cũng là một trong số rất nhiều địa điểm tham quan của Vũng Tàu, thu hút được đông đảo khách du lịch đến tìm hiểu về lịch sử và tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên. Với những giá trị đó ngày 4 tháng 8 năm 1992, Bạch Dinh đã được Bộ Văn hóa-Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
TP Hồ Chí Minh 2417 lượt xem
Di tích Địa đạo Long Phước thuộc xã Long Phước, cách trung tâm thành phố Bà Rịa khoảng 7 km về phía Đông Bắc. Đây là một chứng tích hào hùng của quân và dân ta trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế Quốc Mỹ xâm lược. Ngoài ra, Địa Đạo Long Phước còn là một công trình sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo. Di tích được công nhận là di tích quốc gia theo quyết định số 34/Văn Hóa.Quyết Định ngày 09/01/1990 của Bộ Văn hóa Thông tin. Do có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự, là đầu mối căn cứ địa cách mạng của tỉnh Bà Rịa - Long Khánh, nằm trên trục lộ giao thông (lộ 52 và 23), trục nối đường liên tỉnh Bà Rịa – Long Khánh nên Long Phước luôn là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta với địch trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Năm 1948 nhằm bảo toàn lực lượng và củng cố phong trào cách mạng và cũng để đảm bảo tính mạng và tài sản của nhân dân khi có địch càn quét của địch, Đảng bộ Long Phước đã phát động phong trào đào hầm bí mật trong toàn xã. Đến năm 1949, Chi bộ xã đã có Nghị quyết xây dựng địa đạo vừa để bảo toàn lực lượng và có thể đánh trả địch. Thực hiện Nghị quyết của chi bộ quân và dân Long Phước đã phát triển hệ thống địa đạo ở 5 ấp: Đông, Tây, Nam, Bắc và Phước Hữu. Các cụm địa đạo được nối với nhau bởi đường xương sống, có hầm bí mật chứa lương thực dự trữ với các công sự chiến đấu. Đường địa đạo xương sống cách mặt đất 2-3m, lòng địa đạo cao 1,5-1,6m, rộng 0,6-0,7m đảm bảo đi lại, vận chuyển dễ dàng. Tiền thân là căn hầm nhà ông Năm Hồi với chiều dài 300 mét, nhờ đó tháng 10 năm 1949 lực lượng vũ trang cách mạng đã chiến thắng cuộc càn quét của giặc Pháp giữ vững ấp và cơ sở cách mạng. Năm 1963 địa đạo được khôi phục và phát triển ở ấp Nam Tây chiều dài 200m, có cấu trúc thêm giao thông hào, ụ chiến đấu, kho lương thực, hầm cứu thương. Địa đạo đã trở thành thế trận vững chắc để lực lượng cách mạng bám trụ kiên cường đánh bại nhiều cuộc tấn công, lấn chiếm của địch, điển hình là trận chiến 44 ngày đêm ( 05/3-01/4/1963). Ngày 05/3/1963 tiểu đoàn 61 do Quận trưởng Long Lễ trực tiếp chỉ huy cùng với lực lượng dân vệ có xe M113 yểm trợ đánh phá ấp Bắc Long Phước. Phía ta giữ vững trận địa 3 ngày liền chống trả sự tấn công của địch. Hai trung độ 445, C20 bộ đội huyện và du kích xã dựa vào hào giao thông, ụ chiến đấu để tiêu hao sinh lực địch. Ngày 08/3/1963, địch tăng cường thêm Tiểu đoàn biệt động quân 38, pháo binh và xe M113 càn quét ác liệt tại Long Phước. Đến ngày 01/4/1963 toàn bộ hào giao thông rơi vào tay giặc, các lỗ châu mai bị bịt kín. Cửa chính của địa đạo bị hai xe M113 đè lên. 250 chiến sĩ và nhân dân của ta rút hết xuống địa đạo, với sự chỉ huy của chính trị viên Nguyễn Minh Ninh các chiến sỹ của ta sử dụng quả mìn câm chế lại giao cho đồng chí Mười Dẫm và Sáu Bảo đột phá và đặt vào xích xe M113 rồi điểm hỏa. Khi mìn nổ chiếc xe bị hất tung, quân ta nhanh chóng trườn lên rút chốt trái sang, sử dụng các loại vũ khí ồ ạt tấn công. Trước đoàn bất ngờ, mau lẹ bọn địch không kịp trở tay và phải tháo chạy. Đây là trận chiến đấu lớn thu được nhiều thắng lợi: Tiêu diệt và làm bị thương 143 tên địch, phá hủy 12 xe M113 và đánh bại trận càn quét của địch với lực lượng đông gấp bội có thiết giáp, không quân và pháo binh yểm trợ. Trong suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân và đế quốc, quân và dân Long Phước đã đào được tổng số 3.600 mét địa đạo, trong đó ấp Đông 650 mét, ấp Bắc 2.700 mét, ấp Nam 250 mét. Trải qua bao mưa bom, bão đạn địa đạo và quân dân Long Phước vẫn đứng vững kiên cường, xứng danh vùng đất một thời đạn bom vẫn được xem như “ núm sữa”quan trọng nuôi dưỡng phong trào cách mạng của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và xứng đáng với danh hiệu cao quý mà đảng nhà nước ban tặng “ Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Địa đạo Long Phước là nơi ghi dấu truyền thống cách mạng hào hùng, là niềm tự hào, kiêu hãnh của thế hệ mai sau, là nơi thể hiện đường lối chiến tranh nhân dân mưu trí, sáng tạo của quân và dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong hai thời kỳ kháng chiến. Hiện nay địa đạo Long Phước đã được tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho trùng tu, tôn tạo, có phòng trưng bày truyền thống đón du khách trong và ngoài nước đến tham quan và tìm hiểu về lịch sử cách mạng. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
TP Hồ Chí Minh 2530 lượt xem
Địa điểm căn cứ Trung ương Cục miền Nam (1961-1962) được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 02/2001/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thông Tin ngày 19/01/2001. Hiện nay, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam tọa lạc xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Trước yêu cầu mới của cuộc cách mạng, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã đề ra nhiệm vụ chiến lược cho hai miền Nam - Bắc. Đặc biệt với cách mạng miền Nam tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Trung ương Đảng về chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện. Ngày 23/01/1961, Bộ Chính trị ra quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam và chỉ định Ban chấp hành gồm 08 đồng chí do đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc - Bí thư Trung ương Cục. Đồng chí Võ Chí Công (Võ Toàn) - Phó Bí thư; đồng chí Phan Văn Đáng (Hai Văn) - Phó Bí thư. Các đồng chí ủy viên gồm: Phạm Văn Xô (Hai Xô), Phạm Thái Bường, Võ Văn Kiệt, Trần Lương, Trương Công Thuận. Trung ương Cục miền Nam được giao nhiệm vụ lãnh đạo toàn bộ chiến trường miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Hội nghị Trung ương Cục lần thứ nhất đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là xây dựng các cơ quan chuyên môn giúp cấp ủy đề ra các chủ trương, đường lối, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các chủ trương, chỉ đạo nghiệp vụ cho cấp dưới và đào tạo cán bộ thuộc ngành phụ trách. Các cơ quan chuyên môn gồm: + Văn phòng: do đồng chí chí Lê Vụ (Bảy Thành, Dư Khánh, Bảy Khánh) làm Chánh văn phòng. + Ban Tổ chức - Tuyên huấn: do đồng chí Phan Văn Đáng – Trưởng ban; đồng chí Nguyễn Văn Ngượt (Ba Lâm, Ba Rừng) và đồng chí Lê Tự Nhiên - Phó ban. + Ban cơ yếu: do đồng chí Nguyễn Văn Chín làm Trưởng ban; đồng chí Trần Tiến Liên và Nguyễn Hoàng làm Phó ban. + Ban Hậu cần: Do đồng chí Lý Văn Kỷ làm Trưởng ban; đồng chí Nguyễn Hữu Tân (Năm Mộc) làm Phó ban. + Ban An ninh: đầu tiên gọi là Ban bảo vệ An ninh Trung ương Cục, sau đổi thành Ban An ninh Trung ương Cục; do đồng chí Phạm Thái Bường - Trưởng ban; đồng chí Cao Đăng Chiến (Sáu Hoàng) - Phó ban. + Ban Quân sự Miền: Tư lệnh Trần Quang (Bảy Tiến); Chính ủy Trần Lương. Nhiệm vụ chỉ đạo tác chiến, xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang , xây dựng hình thành ba thứ quân. + Ban Kinh tài: do đồng chí Phạm Văn Xô (Hai Xô, Hai Già) làm Trưởng ban; đồng chí Nguyễn Văn Phi làm Phó ban. Từ căn cứ này, Trung ương Cục đã xây dựng các cơ quan chuyên môn cấp ủy; đề ra các chủ trương, đường lối; chỉ đạo và lãnh đạo nhân dân miền Nam trường kỳ kháng chiến trong suốt thời gian chiến tranh ác liệt tới ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng; bằng những chiến công vang dội như chiến thắng Hiếu Liêm, Phước Thành… góp phần tô đẹp thêm những trang sử oai hùng của quân dân miền Nam. Trải qua thời gian dài tồn tại và phát triển dưới sự tàn phá của chiến tranh, thiên nhiên và con người di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam bị xuống cấp, hư hỏng. Năm 2004, thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đồng Nai đã tiến hành trùng tu, tôn tạo di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam với các hạng mục: nhà bia, nhà trưng bày, đền tưởng niệm... nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị di tích và thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam xem như nơi đây là địa chỉ đỏ nhằm giáo dục thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Nguồn Cổng thông tin huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Đồng Nai 3546 lượt xem
Địa đạo Nhơn Trạch tọa lạc tại ấp 5, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, còn được gọi là địa đạo Phước An vì khi xưa di tích thuộc xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Biên Hòa. Được biết, trước đây từ giữa năm 1963 cho đến cuối năm 1964, hệ thống địa đạo được đào 1.500m đường địa đạo với nhiều ngõ ngách, hầm bí mật. Hệ thống địa đạo liên hoàn khép kín được thiết kế có dạng gần giống chữ chi (Z). Đường xương sống địa đạo được 200m thì được trổ ngách sang hai bên để tạo thành phòng chức năng cho các đơn vị. Tại điểm chính giữa ở mỗi đoạn xương sống địa đạo (100m) được bố trí hai lỗ thông hơi hình phễu úp. Nhiều đoạn địa đạo thiết kế với nhiều đường thẳng gấp khúc, chiều dài mỗi đoạn khoảng 100m. Kích thước của địa đạo tính từ vòm tới đáy dao động: cao 1,8m đến 2m, ngang 1m đến 1,2m. Nóc địa đạo có cấu trúc hình vòm. Ngăn cách giữa các đoạn với nhau bằng một ngăn bí mật có nắp đậy kín, độ dày của ngăn là 1m được khoét một lỗ tròn có đường kính vừa thân người. Miệng chính của địa đạo được bố trí tại trung tâm căn cứ có kích thước dài 2m ngang 1m50, sâu 7m dẫn vào xương sống địa đạo. Độ sâu 7m tính từ mặt đất tới đáy địa đạo được đào theo hình rích rắc tạo thành những bậc thang. Phía trên địa đạo là căn cứ Huyện ủy được bố trí như một tam giác đều, mỗi cạnh dài 70m với ba mặt là giao thông hào sâu 2m, rộng 1m20 tạo thành hệ thống giao thông khép kín. Cách bố trí này được gọi bố trí theo kiểu “kiềng ba chân”, cả ba mặt giao thông hào được xây dựng 7 ụ chiến đấu, mỗi ụ có kích thước ngang 2m, dài 3m, sâu 1m20; phía trên lắp cây, đắp đất dày 1m, ba mặt bố trí ba lỗ châu mai. Bên ngoài hệ thống giao thông hào được bố trí hai hàng chông sắt lớn nhỏ và tầm vông vạt nhọn xen kẽ. Cuối cùng là ba lớp hàng rào kẽm gia. Dẫn vào căn cứ duy nhất có một con đường mòn nằm về phía tây bắc của rừng Lòng Chảo. Tại căn cứ này, quân dân Nhơn Trạch đã làm nên những chiến thắng vang dội trong những năm 1965 - 1970. Từ năm 1972, địa đạo Nhơn Trạch trở thành nơi bám trụ dài ngày của 500 cán bộ chiến sĩ Đoàn 10 Rừng Sác, là nơi xuất phát đánh địch ở các hướng sông Lòng Tàu, kho bom Thành Tuy Hạ… gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Với những giá trị to lớn đó, Địa đạo Nhơn Trạch đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 19/01/2001. Ngày nay Địa đạo Nhơn Trạch là địa điểm về nguồn để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Giới trẻ đến để tham quan, tưởng nhớ công lao to lớn của cha ông xưa từ đó tu dưỡng đạo đức, nhân cách, cố gắng phấn đấu, cống hiến để xứng đáng với sự hi sinh to lớn của thế hệ đi trước. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Đồng Nai 3950 lượt xem
Khu ủy miền Đông Nam bộ (1962 - 1967) được Bộ Văn Hóa Thông Tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp Quốc gia theo Quyết định số 3744-Quyết Định/Bộ Văn Hóa Thông Tin, ngày 29/11/1997. Tháng 6/1960, Bộ Chỉ huy lực lượng vũ trang giải phóng miền Đông (quân khu miền Đông) và Khu ủy miền Đông (T1) được chính thức thành lập, đặt cơ quan lãnh đạo, chỉ huy tại ngọn suối Linh (gọi là căn cứ 820) thuộc chiến khu Đ. Khu ủy miền Đông do đồng chí Mai Chí Thọ (Tám Cao) làm Bí thư. Đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến được cử làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lâm Quốc Đăng làm chỉ huy phó. Các cơ quan Khu đều đóng dọc theo suối Linh. Tại đây, Khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu đã đứng chân trong suốt thời gian dài lãnh đạo chỉ đạo phong trào, mệnh lệnh tác chiến; nơi đứng chân và tổ chức chiến đấu bảo vệ các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy. Khu căn cứ tọa lạc trên đỉnh đồi đất sỏi khá bằng phẳng, độ dốc thoai thoải, diện tích trên 28ha, độ cao 20m so với bề mặt suối Linh. Toàn bộ khu đồi được bao phủ bởi rừng cây dày đặc trong hệ thống rừng nguyên sinh miền Đông. Một phần căn cứ được bao bọc bởi suối Linh quanh năm nước trong vắt, các loài hải sản dồi dào là nguồn thực phẩm vô tận cung cấp cho các lực lượng quân giải phóng. Căn cứ Khu ủy được cấu thành bởi: Hệ thống giao thông hào có tổng chiều dài 569m, sâu từ 50 đến 60cm, rộng 60cm phân làm ba tuyến (tuyến phòng thủ vòng trong, vòng ngoài và phục vụ cho việc canh gác và chiến đấu. Hệ thống địa đạo liên hoàn theo hướng Đông - Bắc và Tây - Nam có chiều dài trên 260m. Đường đi trong lòng địa đạo có nhiều đoạn gấp khúc, gãy góc, quanh co, có các ngã ba nối thông các đoạn địa đạo với nhau hoặc dẫn lên các miệng địa đạo tại các cửa hầm. Hệ thống miệng địa đạo độc lập chủ yếu dạng hình tròn và chữ nhật, độ sâu từ 3-4m trong các phân đoạn của hệ thống địa đạo. Hệ thống hầm trú ẩn được bố trí đều khắp trên mặt căn cứ, nơi làm việc của lãnh đạo Khu uỷ và các cơ quan trực thuộc gồm: văn phòng, cơ yếu, phục vụ, vệ binh… Ngoài ra, trong Khu căn cứ còn có hệ thống bếp Hoàng Cầm và giếng nước phục vụ cho sinh hoạt. Nằm ở vị trí thuận lợi cả về phòng thủ và tấn công, cách bố trí khoa học, Khu ủy miền Đông Nam bộ là địa bàn đứng chân của Khu ủy, Bộ tư lệnh quân khu trong suốt thời gian từ 1962 - 1967. Từ đây, Khu ủy, Bộ tư lệnh quân khu lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang phối hợp với quân chủ lực miền Nam làm nên những chiến thắng vang dội như: Phước Thành, Hiếu Liêm, Bình Giã, Đồng Xoài, Đất Cuốc, Bàu Sắn... Từng bước làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt ” và ''Chiến tranh cục bộ '' của Mỹ - ngụy, mở rộng và bảo vệ an toàn căn cứ, chuẩn bị mọi mặt cho Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1968. Trải qua thời gian, năm 2001, di tích Khu ủy miền Đông Nam bộ được phục hồi lại toàn bộ diện mạo gồm: Hệ thống địa đạo, hệ thống giao thông hào, hầm trú ẩn, văn phòng… Sau khi trùng tu, tôn tạo di tích thường xuyên đón tiếp nhiều đoàn khách trong và ngoài nước; các đồng chí lãnh đạo Trung ương đến tham quan, ôn lại truyền thống hào hùng của một giai đoạn lịch sử đã qua. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng Căn cứ Khu ủy miền Đông còn đó như một minh chứng lịch sử hào hùng cho tinh thần, lý tưởng cách mạng cao cả của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; nỗi ám ảnh cho cho kẻ thù xâm lược và cảm hứng cho văn học thi ca nhân loại. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Đồng Nai 3400 lượt xem
Ngày 15-4-1966, một binh chủng đặc biệt được thành lập và trở thành bất tử với tên gọi Trung đoàn Đặc công rừng Sác anh hùng. Chiến khu Rừng Sác trải rộng trên diện tích hơn 2.200ha, thuộc các huyện Nhơn Trạch, Long Thành (Đồng Nai) đến H.Cần Giờ (Thành Phố Hồ Chí Minh). Hoạt động trong một điều kiện hết sức khắc nghiệt, giữa rừng ngập mặn, ngay sát nách quân thù với trang thiết bị, vũ khí tối tân, những người chiến sĩ đặc công thủy của Đoàn 10 Rừng Sác chỉ có “trái tim yêu nước nồng nàn, cộng với trí thông minh và trái bộc phá, con gao găm” (lời của đại tá - Anh hùng lực lượng vũ trang Lê Bá Ước, nguyên Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10, nguyên Phó chỉ huy kiêm Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai). Hơn 9 năm bám trụ, Đoàn 10 đã thực hiện hơn 600 trận đánh, hoàn thành mục tiêu khống chế toàn bộ hệ thống vận tải thủy tiếp tế cho Sài Gòn và phía Nam, đồng thời lập những chiến công vang dội ngay ở nội đô. Hơn 900 người đã hy sinh, đến nay còn hơn 500 liệt sĩ chưa tìm thấy... Tuy địa hình, cảnh quan nơi đây vẫn giữ được tương đối với hệ thống động thực vật phong phú nhưng do căn cứ làm chủ yếu bằng các vật liệu thô sơ như: Lá dừa nước, thân cây đước, sau khi chuyển sang địa điểm khác, hệ thống nhà làm việc, các cơ sở binh công xưởng của Sở Chỉ huy Đặc khu quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác bị phá hủy hoàn toàn. Trên khu đất của căn cứ xưa hiện có tấm bia đá tưởng niệm do đại tá Lê Bá Ước (đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác) lập để tưởng niệm các đồng chí, chiến sỹ đã hy sinh tại Đặc khu quân sự Rừng Sác. Việc đầu tư, tôn tạo di tích góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và cũng để tỏ lòng tôn kính, tri ân các anh hùng liệt sỹ đã chiến đấu và anh dũng hy sinh tại đây. Căn cứ Sở chỉ huy Đặc khu quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác tại xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 2105/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch ngày 08/7/2014. Nguồn Bộ Văn Hóa , Thể thao và Du lịch.
Đồng Nai 3380 lượt xem
Ngày 23/9, Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch đã ban hành Quyết định số 3068/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch xếp hạng di tích quốc gia cho Di tích lịch sử Địa điểm vụ thảm sát Giồng Sắn, thuộc xã Phù Đổng, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, địa điểm Giồng Sắn là nơi diễn ra vụ thảm sát của chính quyền Sài Gòn ngày 25/10/1965 làm 536 thường dân chết và rất nhiều người khác bị thương. Sau sự kiện này, huyện uỷ Nhơn Trạch đã tổ chức một cuộc biểu tình với hơn 1.000 người tham gia, phản đối hành động sát hại dân lành của chính quyền Sài Gòn. Cuộc biểu tình gây nên dư luận căm phẫn lớn trong cả nước, lên án sự độc ác, tàn bạo của quân đội Sài Gòn. Cuộc thảm sát này cũng dấy lên dư luận, được báo chí nước ngoài đưa tin, lên án. Để tưởng nhớ những người đã mất trong chiến tranh, năm 2004, huyện Nhơn Trạch khởi công xây dựng công trình Bia - Công viên tưởng niệm Giồng Sắn trên diện tích 15.000m2, đây là di tích ghi dấu, tố cáo tội ác của kẻ thù trong cuộc thảm sát thường dân vô tội diễn ra trên vùng đất Nhơn Trạch của tỉnh Đồng Nai. Địa điểm Giồng Sắn đã được UBND tỉnh Đồng Nai xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2004. Nguồn Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du lịch.
Đồng Nai 3678 lượt xem
Khu di tích Đoàn 125 (ấp Suối Râm, xã Long Giao, huyện Cẩm Mỹ), nơi khai sinh của lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia và cũng là nơi an nghỉ của 49 chiến sĩ Campuchia được xem là một biểu tượng của tình đoàn kết Việt Nam-Campuchia. Cùng với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, Thủ đô Phnom Penh của nước bạn Campuchia cũng được giải phóng vào ngày 17/4/1975. Tuy nhiên, ngay sau đó, cách mạng Campuchia lại bước vào thời kỳ đen tối bởi nạn diệt chủng của chế độ Khơ me Đỏ do tập đoàn Pol Pot-Yeng Sari đứng đầu. Trước tình hình đó, được sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, những chiến sĩ cách mạng chân chính Campuchia, trong đó có đương kim Thủ tướng Vương quốc Campuchia, ngài Samdec Hun Sen, đã sang Việt Nam để xây dựng lực lượng, đấu tranh lật đổ chính quyền diệt chủng Khơ me Đỏ. Ngày 12/5/1978, tại ấp Suối Râm, xã Long Giao, huyện Cẩm Mỹ, đơn vị tiền thân của lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia - Đoàn 125 được thành lập, do ngài Hun Sen làm Chỉ huy trưởng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đã có 49 chiến sĩ của Đoàn 125 hy sinh tại đây. Cùng với các lực lượng yêu nước khác của Campuchia, Đoàn 125 đã phát triển thành quân đội hùng mạnh, lật đổ chính quyền Pol Pot, giải phóng nhân dân và đất nước Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Ngày 2/1/2012, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Vương quốc Campuchia Hun Sen, Khu di tích lịch sử địa điểm thành lập Đoàn 125 được khánh thành và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã cấp bằng công nhận là Khu di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai.
Đồng Nai 3499 lượt xem
Mộ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh Thiên Địa Hội tọa lạc trên khu bình địa tổng kho Long. Bình, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa. Đây là nơi an táng Đoàn Văn Cự, lãnh đạo hội kín Thiên Địa hội ở Biên Hoà cùng 16 nghĩa binh đã đứng lên kháng chiến chống lại quân Pháp. Đền thờ có kiến trúc đẹp, bao gồm nhà võ ca và chánh điện, là nơi tưởng nhớ và cầu nguyện cho Đoàn Văn Cự và các nghĩa binh. Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự được Bộ Văn hóa - thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 722/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao ngày 25 tháng 4 năm 1998. Di tích gồm hai phần: mộ và đền thờ. Phần mộ là nơi an táng nhà yêu nước Đoàn Văn Cự, thủ lĩnh hội kín “Thiên địa hội” ở Biên Hòa và 16 nghĩa binh tử trận trong trận tấn công của Pháp vào bưng Kiệu năm 1905. Đây là nơi căn cứ kháng chiến của nghĩa binh “Thiên địa hội” Biên Hòa. Ngôi mộ tọa lạc trên khu bình địa, sát bên dòng suối Linh Tuyền, cách trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 8 km. Ban đầu chỉ là ngôi mộ chôn cất đơn sơ; năm 1956 được nhân dân địa phương xây đắp lại nhưng quy mô nhỏ, mãi đến 1990 ngôi mộ mới được xây dựng bề thế như hiện nay. Ngôi mộ hình chữ nhật dài 16,5 m, rộng 2 m cao 0,75 m, phía sau là ngôi miếu nhỏ thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh. Khu mộ được bảo vệ bởi hai vòng rào bằng gạch, có cổng ra vào, gần như bao quanh khu mộ là dòng suối Linh Tuyền. Ngôi đình cũng được xây dựng từ năm 1956, cách phần mộ khoảng 1km về hướng Đông Bắc. Đền tọa lạc trên khu đất bằng phẳng, rộng gần 3000 m2, thuộc phường Tam Hiệp, trên quốc lộ 15. Ngôi đền được xây dựng theo kiến trúc chữ tam (/) gồm hai phần chính: nhà võ ca và chánh điện. Nhà võ ca có diện tích 303,75 m2 đối diện với đền thờ chính. Bên trong có sân khấu nhỏ dùng để hát bội trong những dịp lễ. Một sân khấu đối diện với chánh điện. Trước khi vào chánh điện phải qua nhà Bái. Đây là nơi khách thập phương ra vào hành lễ. Nối tiếp nhà Bái là chánh điện; phía sau chánh điện là nhà khách và nhà bếp. Đoàn Văn Cự sinh năm 1835 tại làng Bình An, huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa (nay là quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh) trong một gia đình nho học yêu nước. Ông lãnh đạo hội kín thiên địa hội ở Biên Hòa, một tổ chức yêu nước chống Pháp. Ông đã quy tụ đông đảo lực lượng nghĩa quân tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp (trước khi Đảng Cộng Sản ra đời). Để ngăn chặn ảnh hưởng và dập tắt phong trào ngay từ trong trứng nước, sáng ngày 12 tháng 4 năm 1905 một tiểu đội lính mã tà do tên Sen Đầm chỉ huy kéo xuống bao vây căn cứ Bưng Kiệu. Tên quan ba cùng tốp lính vượt suối Linh tiến vào. Đúng lúc không có quân canh phòng giặc Pháp ồ ạt tấn công. Đoàn Văn Cự đã bị trúng đạn hy sinh trước bàn thờ tổ cúng 16 nghĩa binh. Sau đó nhân dân địa phương đã an táng Ông và 16 nghĩa binh cùng một ngôi mộ. Mặc dù thời gian đã trôi qua, tấm gương can liệt của Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa Binh vẫn mãi là tấm gương sáng về lòng yêu mến sự hy sinh của ông và các nghĩa binh mãi mãi được lịch sử lưu danh và ghi nhớ muôn đời. Nguồn Cục di sản văn hóa.
Đồng Nai 3584 lượt xem