Di tích lịch sử

Việt Nam

Đền thờ Trương Định

Anh hùng Trương Định là một vị anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam trong công cuộc chống thực dân Pháp trong giai đoạn từ năm 1859 đến năm 1864. Trương Định sinh ra tại làng Tư Cung, tỉnh Quảng Ngãi. Ông theo cha vào nam và lập nên vùng đất Tân An, Định Tường. Trương Định đã lãnh đạo quân đội đột kích vào đồn điền quân Pháp sau khi quân Pháp tiến đánh Gia Định năm 1859. Tuy nhiên, khi triều đình ký kết Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862, nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp, Trương Định không chấp nhận việc bãi binh và nhậm chức Lãnh binh ở An Giang như lệnh của triều đình. Thay vào đó, ông tiếp tục cuộc chiến với danh hiệu Bình Tây Đại Nguyên Soái, với sự ủng hộ từ nhân dân và các nhà nho. Cuộc đấu tranh chống Pháp của ông chấn động với nhiều chiến công lẫy lừng. Tuy nhiên, vào ngày 19/8/1864, trong trận Đám Lá Tối Trời tại Gò Công Đông, Trương Định bị thương nặng. Để bảo toàn danh dự, ông đã quyết định tự vẫn tại Ao Dinh, Gò Công, khiến người dân và lính của mình đau lòng và tiếc nuối. Sau khi Trương Định mất, vua Tự Đức đã truy tặng danh hiệu và xây dựng đền thờ tại làng Tư Cung, Quảng Ngãi để tưởng nhớ ông. Đền thờ Trương Định, hiện nằm tại xóm Khê Thuận, xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, là nơi phụng thờ anh hùng dân tộc Trương Định. Đền được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2014, và công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 24 tháng 2 năm 2023. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi 3376 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Di tích núi Giếng Tiền

Núi lửa Giếng Tiền và Thới Lới là hai ngọn núi độc đáo tại đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, thuộc nhóm 10 ngọn núi lửa phát hiện ở khu vực này. Núi lửa Giếng Tiền, cao 86m, có miệng núi rộng hàng trăm mét, phủ đất đỏ màu mỡ và xanh quanh năm. Dưới chân núi là chùa Đục, với tượng Quan Thế Âm cao 27m, được xem là bảo vệ ngư dân trên biển. Đứng từ đỉnh núi Giếng Tiền, bạn có thể ngắm nhìn toàn cảnh đảo Lý Sơn và thấy đảo Bé giữa biển khơi. Núi Giếng Tiền hay còn được người dân địa phương gọi là núi lửa tọa lạc ở địa phận của thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi và là ngọn núi lửa lớn thứ hai trên đảo. Ngọn núi lửa này có chiều cao 90m, diện tích khoảng 0,45 km2 và đường kính trong phạm vi hoạt động là 500m. Ngọn núi lửa này có hình dáng miệng rất tròn và nhọn, tựa như hình ảnh của một đồng xu, cũng chính vì hình dáng đặc biệt này mà người dân địa phương đã đặt tên gọi là núi Giếng Tiền. Núi Giếng Tiền cũng có đặc điểm địa chất gần tương tự như núi lửa Thới Lới, khi trải qua hiện tượng xói mòn tạo nên những bức tường đá, mà người dân xưa kia đã tạo thành những bậc thang để dẫn lên miệng núi lửa. Núi Giếng Tiền hình thành từ thời tiền sử khoảng 3.000 đến 4000 năm trước. Chính vì vậy, ngọn núi này đã chứng kiến những sự kiện vô cùng nổi bật về quá trình hình thành địa chất trên đảo. Cũng từ đó, cảnh quan và địa chất ở đây cũng vô cùng đặc biệt, nơi đây có từng lớp tro rơi vào mảnh vụn đã tích tụ khi núi lửa hoạt động trên mặt dốc của núi lửa và hầu như không hề có tàn tích của mực nước biển ở trên các vách đá. Vì sự kiến tạo địa chất theo thời gian, các vách của núi lửa ở đây cũng đã bị bào mòn tạo nên khung cảnh kỳ quan đẹp không thua kém núi lửa Hang Câu - Thới Lới. Vào thời kỳ biển tiến thì đỉnh núi cũng đã bị nhấn chìm dưới là nước biển theo các giai đoạn khác nhau khi các vách đá bị bào mòn, lộ ra những mặt cắt rất đẹp. Một điều rất kỳ lạ là mặc dù núi lửa Giếng Tiền trên đảo Lý Sơn có loại đất đỏ vô cùng màu mỡ, nhưng không hề có một loài cây nào có thể mọc nổi ở trên đó. Lý giải về điều này, người dân huyện đảo cho rằng đây là miền đất thiêng, chính bởi vậy cây cối không thể mọc lên trên đó. Người ta cũng đã mang thứ đất thiêng này để về làm cốt cho những ngôi mộ gió rải rác khắp vùng. Vào tháng 1/2020, di tích núi Giếng Tiền đã được bộ văn hóa thể thao du lịch quyết định công nhận là một trong những di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi 3599 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Đình làng An Vĩnh

Di tích đình An Vĩnh được xây dựng từ cuối thế kỉ 18, nằm tại đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi. Đình không chỉ là nơi lưu giữ văn hóa và lễ tế truyền thống, mà còn là biểu tượng quan trọng của chủ quyền biển đảo Việt Nam. Đình An Vĩnh đã không ít lần chứng kiến những sự kiện lịch sử, từ việc tách biệt phường An Vĩnh đảo Cù Lao Ré đến những cuộc chiến với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Không chỉ là nơi lưu giữ những cổ vật, di tích đình An Vĩnh còn là nơi ghi lại những dấu ấn lịch sử với Đội Hoàng Sa, một đội người lính đánh cá bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đây cũng là điểm xuất phát của họ Võ Văn, Nguyễn, Phạm Quang, Lê, Võ Xuân, Đặng, những dòng họ nổi tiếng tham gia Đội Hoàng Sa. Kiến trúc của đình với hình chữ Tam và mô thức trang trí tứ linh, ngũ phúc thể hiện niềm tin cầu mong sự bình an cho nhân dân. Đình làng An Vĩnh không chỉ là biểu tượng tinh thần cho người dân đảo Lý Sơn, mà còn là di tích lịch sử Quảng Ngãi quan trọng, là minh chứng sống cho chủ quyền biển đảo Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vào năm 2013, di tích đình Lý Sơn Quảng Ngãi đã được nhà nước ta công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi 3326 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Đình An Hải

Di tích đình An Hải nằm trên đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đình là nơi thờ cúng các thần linh, tiền hiền của Đảo Lý Sơn. Qua đó thể hiện được mối liên hệ giữa văn hóa người Việt đối với nền văn hóa ChămPa cổ. Đình làng An Hải được xây dựng vào năm 1820. Do đó mà đình mang đậm nét phong cách thiết kế, kiến trúc nghệ thuật cổ kính và trang nghiêm. Đình An Hải được 8 dòng họ tiền hiền cùng dân làng cùng nhau xây dựng đình. Tuy nhiên, về sau này họ Lê bị loại khỏi danh sách tiền hiền do vi phạm quy định trong tế Đình. Từ 1820 đến nay, đình An Hải đã trải qua nhiều đợt tu bổ và xây dựng thêm nhiều công trình. Vì vậy mà kiến trúc hiện tại của đình đã có một số thay đổi so với ban đầu. Đình được xây dựng với hướng quay ra biển, đằng sau là núi Thới Lới và trước mặt có hai trụ biểu với con nghê đặt trên đỉnh. Kiến trúc bên trong đình làng An Hải bao gồm tiền đường, hậu tẩm và các chi tiết trang trí như chiêng, trống, bàn thờ cô hồn. Đình mang phong cách bố trí theo quan niệm âm dương, thể hiện mong muốn bình an qua các mô típ thiết kế và trang trí lưỡng long, long phụng, ngũ phúc…Mặc dù đã trải qua nhiều sự thay đổi, nhưng di tích đình An Hải vẫn giữ được vẻ đẹp độc đáo, đặc trưng của phong cách kiến trúc cổ, thể hiện được sự trang nghiêm, cổ kính của đình làng. Vào năm 1995, di tích đình làng An Hải đã được xếp hạng là một trong những di tích lịch sử Quảng Ngãi được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Cổng thông tin điện tử huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi 3150 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Di tích lịch sử “Cuộc đấu tranh Hà Lam - Chợ Được”

Di tích nằm cách Chợ Được khoảng 300m và đối diện với trạm y tế xã Bình Triều. Cuộc đấu tranh Hà Lam - Chợ Được diễn ra từ ngày 4/9 đến ngày 7/9/1954 - là cuộc đấu tranh chính trị thể hiện tinh thần yêu chuộng hoà bình và công lý của nhân dân Thăng Bình nói riêng, Quảng Nam nói chung chống lại bọn Mỹ - Diệm ngang ngược, tàn bạo, âm mưu vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta. Khởi đầu cuộc đấu tranh diễn ra tại cầu Bàu Bàng chỉ có mấy chục người tham gia nhưng sau đó đã nhanh chóng đẩy lên thành cao trào với hàng ngàn người tham gia đấu tranh tại Chợ Được. Cuộc đấu tranh này đã làm 43 người chết và 23 người bị thương. Tuy nhiên cuộc đấu tranh đã thể hiện tinh thần yêu nước cao cả, ý chí quật cường, không ngại hy sinh của nhân dân, kiên quyết đấu tranh đòi bọn địch phải tuân thủ thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ; quyết bảo vệ được nền độc lập, tự do và dân chủ của đất nước…; buộc địch phải chùn bước, phải chấp nhận các yêu sách của Nhân dân đặt ra. Để ghi lại tội ác của Mỹ-Diệm và tưởng nhớ đến những người đã ngã xuống, đài tưởng niệm có diện tích 8.988m2­, có tường rào cổng ngõ bao quanh khá kiên cố, tọa lạc tại thôn 3, xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phần tượng đài được xây dựng hình khối cao khoảng 5m, thể hiện ba người đứng tựa lưng vào nhau, bao gồm: một cụ già cầm chắc cây gậy trên tay, một cô gái đang cầm nón lá và một thanh niên đang bồng một em bé bất động trên tay. Phía sau tượng đài là hai bức phù điêu bằng xi măng đắp nổi, mô tả quá trình đấu tranh của nhân dân Hà Lam - Chợ Được trong cuộc đấu tranh ngày 04 tháng 9 năm 1954. Giữa hai bức phù điêu là bệ thờ, phía trong bệ thờ có dòng chữ “Tổ quốc ghi công”. Di tích lịch sử “Cuộc đấu tranh Hà Lam - Chợ Được” được Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam công nhận theo quyết định số 4267/Quyết Định -Uỷ Ban Nhân Dân, ngày 21/11/2005. Năm 2014 được Bộ Văn Hóa -Thể Thao &Du Lịch chính thức xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng 3688 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Địa điểm chiến thắng Bồ Bồ.

Cứ điểm Bồ Bồ nằm ở vùng núi Đất Sơn, thuộc xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn là một vùng đồi thấp rộng khoảng 215 héc ta, có độ cao 55 mét. Núi Đất Sơn có 5 điểm cao là Sùng Công, Giồng Ngang, Giồng Lạc, Bồ Bồ và Đất Ký. Đây là địa bàn chiến lược, khống chế cả một vùng từ Tây Điện Bàn đến Hòa Vang và một phần phía Đông huyện Đại Lộc. Vì vậy, sau khi đưa quân trở lại chiếm đóng nước ta, quân Pháp đưa một đại đội đến chiếm đóng Bồ Bồ và biến nơi đây thành cứ điểm vững chắc nằm trong hệ thống phòng thủ từ xa bảo vệ căn cứ Đà Nẵng. Trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954, trước sự tấn công dồn dập cả quân sự, chính trị binh vận của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng, địch hoàn toàn rơi vào thế cô lập. Nhiều đồn bót của địch chỉ cách Đà Nẵng vài chục cây số về phía nam phải tiếp tế bằng máy bay, bộ máy ngụy quyền tan rã ở nhiều nơi. Để cứu vãn tình hình, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp tại miền Trung đã điều động một lực lượng cơ động từ chiến trường Tây Nguyên quay về Đà Nẵng. Chúng tập trung bốn đại đội khinh binh, ba đại đội thủy quân cơ giới, ba đại đội công binh với hơn 800 tên, 110 xe cơ giới, 10 ca nông và nhiều trọng đại liên mở cuộc hành quân “Con Báo” phá vùng du kích Điện Bàn, chiếm lại cứ điểm Bồ Bồ nhằm giải tỏa, tiếp tế cho quân địch ở Ái Nghĩa, Phong Thử trên đường 100, củng cố tuyến phòng thủ nam bắc sông Cẩm Lệ, bảo vệ Đà Nẵng. Trước đó, ngày 9-6-1954, các đơn vị bộ đội địa phương Điện Bàn đã mở cuộc tập kích lần thứ nhất vào cứ điểm Bồ Bồ, tiêu diệt toàn bộ bọn địch ở đây thu được 1 khẩu pháo 57 ly. Căn cứ tình hình thực tế trên chiến trường, Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng quyết định lợi dụng yếu tố bất ngờ, dùng chiến thuật tập kích đánh địch ngay khi chúng vừa đặt chân đến Bồ Bồ để diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, bẻ gãy cuộc hành quân của chúng, bảo vệ cơ sở, tài sản và tính mạng của nhân dân. Chấp hành chủ trương ấy công tác chuẩn bị được khẩn trương tiến hành. Nhân dân các xã Điện Hồng, Điện Tiến, Điện An, Điện Hòa tham gia đắp đường, hăng hái đi dân công phục vụ tiền tuyến. Khẩu hiệu hành động lúc này là “Tất cả cho chiến thắng”, ta đã huy động 500 dân công hỏa tuyến, 650 dân công thu chiến lợi phẩm. Ngoài ra, còn một số dân công khác cũng được bố trí cách trận địa 1.500 mét sẵn sàng chi viện cho chiến trường. Đúng 0 giờ 30 ngày 19-7-1954, ta bắt đầu khai hỏa nã đạn vào các điểm cao của địch ở cứ điểm Bồ Bồ. Hỏa lực vừa dứt thì các mũi tiến công của ta đồng loạt ào lên đánh chiếm các vị trí, chia cắt đội hình địch. Lúc đầu, địch hỗn loạn nhưng sau đó, chúng ổn định lại đội hình, chống trả điên cuồng. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Pháo địch từ Giồng Ngang và đồi Sùng Công bắn chặn đường tiến. Nhưng, các chiến sĩ của ta vẫn kiên trì bám sát trận địa, dũng cảm đánh chiếm sân bay, tràn vào khu trung tâm. Người trước ngã, người sau tiếp bước. Các chiến sĩ ngoan cường bám sát trận địa, lợi dụng địa hình địa vật đánh chiếm sân bay, diệt 4 xe địch. Ở Giồng Ngang, ta diệt thêm 3 xe. Khi ta tràn vào trung tâm, địch dùng xe tăng và trọng pháo chống cự quyết liệt. Ta bắn hỏng xích, nhảy lên xe dùng lựu đạn đánh vào tháp pháo tiêu diệt. Các mũi khác xung phong tràn vào chiếm lĩnh trận địa. Hết đạn, nhiều đồng chí dùng lưỡi lê đâm địch, vật lộn với kẻ thù. Trước tinh thần chiến đấu ngoan cường của ta, địch đành phải bỏ chạy. Nhân dân và du kích Điện Bàn vây chặt, không cho tên nào chạy thoát. Kết quả, ta đã diệt 159 tên địch, bắt sống 293 tên, thu 142 súng từ tiểu liên đến đại liên. Đây là trận đánh ta bắt được nhiều tù binh Âu Phi nhất trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Cuộc hành quân của địch nhằm chiếm lại cứ điểm Bồ Bồ đã bị thất bại hoàn toàn. Chiến thắng Bồ Bồ sáng 19-7-1954 thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Tỉnh ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, đồng thời thể hiện tinh thần liên tục tiến công tiêu diệt địch. Chiến thắng Bồ Bồ đã góp phần cùng cả nước kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương ngày 20-7-1954. Chiến thắng Bồ Bồ mãi mãi đi vào lịch sử như một “Điện Biên Phủ” trên chiến trường Quảng Nam trong kháng chiến chống Pháp. Tưởng nhớ đến những anh hùng, chiến sĩ cách mạng, đồng chí, đồng bào đã ngã xuống trong trận đánh Bồ Bồ, đúng vào lúc 19h ngày 19/7/2024, tại Tượng đài Chiến thắng Bồ Bồ, xã Điện Tiến, Thị ủy – Hội Đồng Nhân Dân – Uỷ Ban Nhân Dân – Uỷ Ban Mật Trận Tổ Quốc Việt Nam thị xã Điện Bàn long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm chiến thắng Bồ Bồ (19/7/1954 - 19/7/2024) và đón Bằng xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia Di tích Địa điểm chiến thắng Bồ Bồ. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng 3761 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng

Là di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia, thuộc thôn 1, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 35 km về phía tây. Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876, quê làng Thạnh Bình - Tiên Phước, là một người thông minh học giỏi, một chí sĩ yêu nước. Đỗ Tiến sĩ năm 1904, đến năm 1908, cụ Huỳnh đứng đầu phong trào Duy Tân ở miền Trung, bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo . Năm 1927 sau khi ra tù,cụ Huỳnh thành lập tờ báo Tiếng Dân nhằm tuyên truyền đấu tranh yêu nước. Sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, cụ Huỳnh được Bác Hồ mời ra làm Bộ Trưởng Bộ Nội vụ rồi có thời gian giữ chức quyền Chủ tịch nước. Năm 1947, cụ Huỳnh mất tại Quảng Ngãi khi đi kinh lý Miền Trung. Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng là ngôi nhà cũ tọa lạc trong khu vườn rộng có diện tích gần 4.000m2 do thân sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng xây dựng từ năm 1869, theo lối kiến trúc rất phổ biến dưới thời nhà Nguyễn. Ngôi nhà gồm 3 gian, mái ngói, khung sườn gỗ với những đường nét chạm trổ tinh xảo. Tổng thể kiến trúc bên trong mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn với các trính lượn cong, trên trính có các trỏng quả kê trên con đội chạm hình đầu lân. Một căn bếp được xây dựng kề với nhà trên và được nối bởi một cửa bên hông. Bên trái và bên phải nhà được ngăn nhô ra phía trước. Bên phải là phòng ăn chung cả gia đình. Phía trái có ngăn phòng lồi là nơi cụ Huỳnh Thúc Kháng làm việc. Gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên, quanh bàn thờ có chạm khắc hoa văn cách điệu hình con dơi ngậm chuỗi vòng và một đôi rồng bằng gỗ mít. Chính giữa bàn thờ đặt mục chủ (đề tên các ông bà, thân nhân của cụ Huỳnh đã qua đời). Phía trước là mục thấp hơn, hiện thờ cụ Huỳnh Thúc Kháng. Hiện trong ngôi nhà vẫn còn bảo tồn được không gian làm việc khi xưa của cụ Huỳnh cùng những vật dụng sinh thời cụ Huỳnh hay dùng trong đó có cả chiếc áo cụ Huỳnh mặc khi tham gia chính phủ năm 1946….Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng đến nay đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần, đây không chỉ là di tích cấp quốc gia, mà còn là một “địa chỉ đỏ” để thế hệ trẻ tìm về nhận diện truyền thống, tiếp nối chí hướng cha ông. Nguồn Cổng thông tin điện tử thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng 3853 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Mộ danh nhân Đỗ Đăng Tuyển

Ngày 12/3/2024, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Quyết định số 608/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch về việc xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia đối với mộ chí sĩ Đỗ Đăng Tuyển, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc. Chí sĩ Đỗ Đăng Tuyển (1856- 1911) sinh ra và lớn lên ở làng Ô Gia, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc. Ông từng giữ một chức quan nhỏ ở triều đình nhà Nguyễn. Khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, ông từ quan về quê. Năm 1885, vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương, Đỗ Đăng Tuyển tham gia Nghĩa hội Quảng Nam- một phong trào hưởng ứng chiếu Cần Vương tại Quảng Nam. Ông được giao chức Tán tương quân vụ chuyên phụ trách vận động lương thực, tiền bạc cho các hoạt động của Nghĩa hội. Năm 1904, ông là một trong 5 thành viên tham gia sáng lập Duy Tân hội. Năm 1910, ông bị chính quyền tay sai và thực dân Pháp bắt giữ và đưa tới nhà lao Lao Bảo (Quảng Trị) giam cầm. Tại đây, ông đã tuyệt thực hơn 1 tuần và hy sinh vào ngày 02/5/1911. Ngày 27/4/2021, Huyện ủy Đại Lộc đã tổ chức Hội thảo khoa học "Cuộc đời và sự nghiệp của chí sĩ Đỗ Đăng Tuyển" nhân kỷ niệm 165 năm ngày sinh (14/5/1856 - 14/5/2021) và 110 năm ngày mất (2/5/1911 - 2/5/2021) của ông. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng 3967 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Di tích Giếng Nhà Nhì 

Giếng Nhà Nhì thuộc thôn 5, xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, cách thành phố Hội An 15km về phía bắc theo đường Hội An – Đà Nẵng, cách Thành phố Đà Nẵng 5 km về hướng Nam. Trong phong trào đồng khởi phá kèm ở Điện Bàn, Đội đặc công của tỉnh, được giao nhiệm vụ tổ chức thọc sâu về vùng cát Điện Nam - Điện Ngọc đánh thu hút địch, tạo điều kiện cho các xã vùng A, B của huyện nổi dậy phá kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ . Đội có 7 người, do đồng chí Hiền làm đội trưởng, Võ Như Hưng- đội phó và các đội viên gồm Đặng Thật, Nguyễn Rìu, Nguyễn Sỹ, Trần Thọ, Trần Đại Nghĩa cùng 3 cán bộ của huyện Điện Bàn là Võ Tiến (tức Thụ)-Thường vụ Huyện ủy, Lê Tựu và Đặng Bảo Chí. Trận đánh diễn ra trong sự chênh lệch quá lớn về lực lượng. Ta chỉ có 10 chiến sĩ, trang bị 8 tiểu liên, 2 súng ngắn, 2kg thuốc nổ TNT, và mỗi chiến sĩ được trang bị 150 viên đạn và một ít lựu đạn. Địch phát hiện và điều 1 đại đội biệt kích, 10 trung đội bảo an, dân vệ (khoảng 500 lính) được trang bị đầy đủ vũ khí và phương tiện thông tin liên lạc bao vây. Nhưng với tinh thần “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, “lấy vũ khí địch đánh địch”, “mỗi viên đạn một quân thù” các chiến sĩ ta đã quần lộn đánh địch suốt chiều dài của vùng đất Điện Nam và Điện Ngọc, cuối cùng địch dồn lực lượng bao vây, đội phải trụ tại giếng cạn nhà bà Nhì (Điện Ngọc), hơn 4 tiếng đồng hồ đội đã đẩy lùi hàng chục đợt tấn công, tiêu diệt gần trăm tên địch. Ta tổn thất 4 đồng chí hi sinh, 1 bị thương. Sau trận đánh vẻ vang này, Đồng chí Lê Tấn Hiền (Viễn) được cử đi báo cáo thành tích tại quân Khu. Chiến công to lớn của đội công tác đã được Mật Trận Dân Tộc Giải Phóng Khu Trung Trung Bộ phong tặng danh hiệu Bảy dũng sĩ Điện Ngọc và tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng Nhất. Cách Di tích lịch sử cấp Quốc gia Giếng Nhà Nhì là Tượng đài các Dũng sĩ Điện Ngọc được xây dựng với quy mô uy nghi tượng trưng cho khí thế cách mạng, sự chiến đấu ngoan cường của các dũng sĩ Điện Ngọc. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng 3724 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Mộ chí sĩ Trần Quý Cáp

Trần Quý Cáp (1870 - 1908), tự Dã Hàng, Thích Phu, hiệu là Thái Xuyên. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Thai La, làng Bất Nhị, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trần Quý Cáp là một trong ba nhân vật kiệt xuất của phong trào Duy Tân. Ông không chỉ là một nhà lãnh đạo cách mạng lỗi lạc mà còn là một nhà thơ có tài. Thơ văn của ông mang hơi thở của thời đại, là tiếng nói chân thành của một trái tim nồng nàn yêu nước, thể hiện tư tưởng tình cảm của tầng lớp nho sĩ tiến bộ những năm đầu thế kỷ XX. Ông tham gia phong trào Duy Tân chống Pháp, sau đó bị bắt giam vào năm 1908, dù không tìm ra chứng cứ nhưng thực dân Pháp vẫn xử chém ngang lưng mà người đời gọi đó là bản án Mạc tu hữu. Hiện nay vẫn còn đền thờ ông ở thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa. Gia đình đã đưa di cốt Chí sĩ Trần Quý Cáp cải táng tại quê nhà tại nghĩa trang Gò Bướm, làng Bất Nhị, xã Điện Phước, huyện Điện Bàn vào năm 1925. Đến năm 1938, nhân dân đã quyên góp xây dựng lại lăng mộ khá khang trang. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, mặc dù chiến tranh tàn phá gây hư hỏng nặng nề, nhưng con cháu cùng gia tộc vẫn chăm lo gìn giữ lăng mộ. Năm 1994, Lăng mộ Chí sĩ Trần Quý Cáp được huyện Điện Bàn và gia đình, gia tộc Trần Văn làng Bất Nhị xây dựng lại theo kiến trúc lăng mộ cũ ở Khánh Hòa. Năm 2000, Lăng mộ Chí sĩ Trần Quý Cáp được công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng 3539 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở