Di tích lịch sử

Việt Nam

Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954

Di tích "Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954" là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng được ghi vào sử sách về cuộc đấu tranh của đồng bào ta đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Quảng Nam. Sáng 27-9, tại xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam đã diễn ra Lễ đón nhận Bằng Di tích lịch sử cấp Quốc gia “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” và tưởng niệm 65 năm cuộc đấu tranh Cây Cốc (29/9/1954 - 29/9/2019). Di tích “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng được ghi vào sử sách về cuộc đấu tranh của đồng bào ta đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Quảng Nam. Theo sử liệu ghi lại, 9h ngày 29-9-1954, nhân dân từ Quế Sơn, Tam Kỳ, Quảng Ngãi lên chợ Cây Cốc (xã Tiên Thọ, huyện Tiên Phước) để buôn bán. Khi nghe tin địch bắt giam, đàn áp người dân và các cán bộ cách mạng nên họ đã tập hợp, nổi trống mõ kêu gọi đồng bào quanh chợ Cây Cốc cùng đi đấu tranh. Đến khoảng 10h cùng ngày, khi vừa đến cầu Vôi, 3 chiếc máy bay khu trục của quân độ Pháp quần lượn trên bầu trời, địch đã ban hành mệnh lệnh đàn áp, liền sau đó lính của Tiểu đoàn 601 nổ súng vào nhân dân,... khiến hơn 330 đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống. Việc công nhận “Địa điểm diễn ra cuộc đấu tranh Cây Cốc năm 1954” là Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngoài việc trở thành địa điểm giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ còn là nơi kết nối du lịch, văn hóa lịch sử của tỉnh Quảng Nam. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng 3663 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Địa điểm khởi phát phong trào chống sưu thuế năm 1908 ở miền Trung

Phong trào chống sưu cao, thuế nặng ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đã trải qua hơn một thế kỷ song những giá trị lịch sử mà phong trào mang lại vẫn còn vẹn nguyên cho đến ngày hôm nay…. “Sòng dân Đại Lộc”… Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên vào cửa biển Đà Nẵng mở đầu cho việc xâm lược nước ta. Các phong trào yêu nước liên tục nổ ra ở khắp nơi nhưng cuối cùng bị thất bại. Năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chính sách “khai thác thuộc địa” lần thứ nhất bằng những chính sách thực dân phản động và bảo thủ, bóc lột nhân dân ta hết sức thậm tệ, tàn ác đặc biệt là chính sách sưu thuế. Người dân không những phải nộp thuế mà còn phải đi phu, lao dịch, đắp đường… Biết bao nhiêu người bỏ mạng, biết bao nhiêu người mang thương tật cả đời.. Những hình ảnh tang thương đó đã đi vào ca dao: Từ ngày Tây lại cửa Hàn Đào sông Cu Nhí, bòn vàng Bồng Miêu Huyện Đại Lộc là một trong những địa phương của tỉnh Quảng Nam mà nhân dân chịu nhiều thống khổ bởi chính sách cai trị tàn bạo thực dân phong kiến. Đói khát, bệnh tật cộng thêm thiên tai, hạn hán liên miên đã dìm cuộc sống của những người nông dân xuống tận cùng của đau khổ. Tên tri huyện lúc đó lại lợi dụng chính sách tăng thuế để khai khống số dân nhằm thu lợi cho cá nhân. Trước tình cảnh đó, vào đầu tháng 3 năm 1908, tại một bữa đám giỗ tộc Trương làng Phiếm Ái, xã Đại Nghĩa; một số hào lý đã bàn nhau làm đơn lấy chữ ký của các lý trưởng các làng xã trong huyện gửi quan huyện xin giảm nhẹ sưu cùng các món thuế bởi nhân dân quá khổ trước chính sách sưu, thuế hiện hành; nếu không được sẽ gửi lên Tòa Công sứ Pháp tại Hội An. Do việc làm xuất phát từ sự thương dân, vì quyền lợi chính đáng của đa số nhân dân, nên những người "làm đơn lấy chữ ký ", được nhân dân trong huyện gọi là "Đồng dân" và cuộc "Xin sưu" do họ khởi xướng được gọi là "Sòng Đồng Dân" hay là "Sòng dân Đại Lộc". Ngày 11-3-1908, hơn 400 người dân ăn mặc rách rưới kéo xuống huyện đường, nhưng viên Tri huyện không dám nhận đơn, lại cấp báo với viên quan tỉnh và Công sứ Pháp nên đoàn biểu tình bèn kéo nhau đi vây dinh Tổng đốc rồi vây luôn cả tòa Công sứ. Nhân dân các phủ huyện như Điện Bàn, Duy Xuyên, Tam Kỳ, Hội An, Hòa Vang… cũng đồng loạt hưởng ứng tại địa phương mình, và còn kéo về Hội An nên số người biểu tình ở đây mỗi lúc một đông. Trước sức ép của quần chúng nhân dân, chính quyền thực dân phong kiến đã thẳng tay đàn áp, bắt một số người lãnh đạo phong trào đày đi các nhà tù hoặc xử trảm. Phong trào đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng sau một thời gian cũng bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp. Tuy nhiên, phong trào nhận được sự hưởng ứng, tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân bởi vì đây là phong trào đấu tranh vì quyền lợi chính đáng của những người dân nghèo khổ chống lại sự bóc lột của bộ máy cai trị thối nát lúc bấy giờ. Phong trào chống sưu thuế năm 1908 cũng thể hiện được lòng yêu nước, tinh thần, sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Xuất phát từ lòng căm thù bọn thực dân xâm lược, bè lũ phong kiến tay sai bán nước hại dân, dưới sự lãnh đạo của những sĩ phu yêu nước, những người nông dân “áo rách nón cời” đã vùng lên tranh đấu. Lúc đầu, phong trào chỉ xuất phát ở một huyện, sau đó nhanh chóng lan ra các huyện, phủ trong tỉnh Quảng Nam và các tỉnh miền Trung. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân ta từ xưa đến nay cũng chính là giá trị bất biến, góp phần quan trọng vào sự thành công trong quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Phong trào chống sưu thuế đã giáng một đòn rất mạnh vào bộ máy chính quyền thực dân phong kiến đương thời. Ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung, nhân dân nổi dậy phá buồng giam, đốt dụng cụ tra tấn, giải phóng tù nhân; hàng loạt những tên tay sai gian ác bị quần chúng nhân dân vây bắt, có những tên ác ôn còn bị trừng trị thích đáng. Dù ở đâu, các cuộc nổi dậy của nhân dân đều có sự “dẫn đường chỉ lối” của các nho sinh, thân sĩ- những người có nhận thức nhất định về xã hội lúc đó. Mặc dù phong trào đã thất bại song nó đã mang đến ánh sáng mới cho con đường cách mạng Việt Nam. Giai cấp nông dân chính là lực lượng nòng cốt cho các phong trào cách mạng sau này. Trước sức mạnh bởi đòn roi, súng đạn của kẻ thù, những yêu sách mang tính ôn hòa sẽ không mang lại kết quả; chỉ có bạo lực cách mạng mới đủ sức chống lại bạo lực phản cách mạng. Phong trào đã được nhận xét là “một cuộc cách mạng được chuẩn bị một cách cực kỳ khéo léo”. 110 năm đã trôi qua, phong trào chống sưu thuế ngày ấy mới chỉ là bước mở đầu cho những phong trào cách mạng sục sôi sau này. Nhưng giá trị hiện hữu mà cho đến hiện nay chúng ta vẫn phải khẳng định đó là sức mạnh của lòng dân. Ngày ấy, trước sự vận động của các nhà nho yêu nước, quần chúng nhân dân “cơm đùm gạo gói” thay nhau đi đấu tranh đòi giảm sưu, giảm thuế. Hàng ngàn người chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm, chăm sóc, động viên những người bị thương… Họ đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, không vụ lợi, không toan tính cho cá nhân mình. Họ làm tất cả mọi việc chỉ với mục đích duy nhất là chống lại ách thống trị tàn bạo của chính quyền thực dân phong kiến; đòi lại quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho những kiếp người lao khổ. Phong trào chống sưu thuế ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đã đi vào lịch sử đấu tranh của dân tộc ta như một mốc son sáng ngời. Ghi nhận những giá trị lịch sử to lớn của phong trào chống sưu thuế; ngày 29/12/2017, Bộ trưởng Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 5400/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch về việc xếp hạng Di tích lịch sử Địa điểm khởi phát phong trào chống sưu, thuế năm 1908 ở miền Trung (Đình Phiếm Ái và Nhà Ông Nghè Tiếp), xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam là di tích quốc gia.

Đà Nẵng 3553 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Lăng mộ Thượng thư Trương Công Hy

Thượng thư Trương Công Hy (1727 - 1800) là người làng Thanh Quýt của phủ Điện Bàn, nay thuộc xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn. Cụ là nhân vật lịch sử đặc biệt, được Viện Sử học (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) khẳng định “là danh thần triều Tây Sơn mà chính sử nước ta còn bỏ sót”, vì thế tên tuổi và sự nghiệp đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc cần được tôn vinh xứng đáng. Trương Công Hy đỗ hương cống dưới thời Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, làm thầy dạy của ấu chúa Nguyễn Phúc Dương cũng như các hoàng tử, hoàng tôn trong phủ chúa. Nhận thấy sự mục ruỗng của chính sự lúc bấy giờ nên khi triều Tây Sơn chiêu hiền, đãi sĩ, phất cờ chính nghĩa, cụ đã theo phụng sự cho vương triều Tây Sơn và được bổ nhiệm làm Tri phủ Điện Bàn, rồi Khâm sai Quảng Nam trấn, Hình bộ Thượng thư. Về quê an hưu, cụ được truy phong chức Binh bộ Thượng thư, tước Thùy Ân Hầu. Sinh thời, Thượng thư Trương Công Hy là một danh thần luôn hết lòng vì dân, vì nước, nổi tiếng thanh liêm. Trong thời gian làm Tri phủ Điện Bàn, cụ dốc hết tâm sức chấn chỉnh chính quyền cấp thôn, xã; tổ chức khẩn hoang, đẩy mạnh sản xuất, mở mang trường lớp, tiến cử hiền tài, hết lòng chăm lo đời sống nhân dân. Được nhà Tây Sơn cấp lộc điền 500 mẫu ruộng tại Lai Nghi, Phú Chiêm (xã Điện Phương), khi về hưu cụ đã phân phát cho người dân địa phương canh tác. Lúc cụ mất, dân chúng khắp nơi đến viếng rất đông. Làng phải dựng “Xích hậu” (tức nhà khách) để dân chúng trọ lại trước khi vào viếng. Con đường từ “Xích hậu” đến nhà thờ tộc Trương hiện vẫn được dân chúng gọi là Ngõ Quan Thượng. Trong suốt cuộc đời của mình, Thượng thư Trương Công Hy đã có nhiều đóng góp vào việc chấn chỉnh tổ chức giáo dục khoa cử, biên soạn luật lệ, tiến cử người hiền tài… Năm 2005, Lăng mộ Thượng thư Trương Công Hy được Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh và đến tháng 8 năm 2013, Bộ Văn Hóa - Thể Thao & Du Lịch đã có quyết định công nhận Di tích lịch sử và xếp hạng di tích quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Đà Nẵng 3594 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Khu di tích lịch sử và thắng cảnh Khu căn cứ Núi Bà

Cao 800m so với mực nước biển, Núi Bà là dãy núi cao nhất và lớn nhất ở vùng đồng bằng Bình Định. Trên núi có 66 đỉnh cao thấp khác nhau, những khối đá khổng lồ đủ hình thù, có nhiều cánh rừng, con suối, các điểm uốn lượn, gấp nếp của các sườn đồi tạo địa hình hiểm trở... Trong kháng chiến chống Mỹ, núi Bà giữ vị trí chiến lược quan trọng, đặc biệt đối với địa bàn khu Đông. Nơi đây từng là căn cứ hoạt động của Tỉnh ủy, các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang của tỉnh, Thị ủy Quy Nhơn và các huyện ủy An Nhơn, Tuy Phước, Phù Cát. Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã chỉ đạo kháng chiến, mở nhiều lớp đào tạo, huấn luyện lực lượng vũ trang, cán bộ cơ sở cách mạng. Núi Bà cũng là bàn đạp mở nhiều đợt tấn công, nổi dậy trong chiến dịch Đồng khởi khu Đông năm 1964, chiến dịch Xuân Mậu Thân năm 1968 và cuộc tổng tiến công, nổi dậy mùa Xuân năm 1975 giải phóng Thị Xã Quy Nhơn và tỉnh Bình Định. Khu căn cứ Núi Bà là nơi ghi dấu về cuộc sống gian khổ, tinh thần chiến đấu kiên cường và những chiến công hào hùng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Bình Định trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho đất nước. Di tích lịch sử và thắng cảnh Khu căn cứ Núi Bà được xếp hạng cấp quốc gia năm 1994, với 22 điểm di tích ở trên dãy Núi Bà thuộc thị trấn Cát Tiến và các xã Cát Hải, Cát Tài, Cát Hưng, Cát Hanh, Cát Thành của huyện Phù Cát. Tượng đài chiến thắng Núi Bà có địa thế đẹp “tựa sơn hướng thủy”, lại gần bãi biển Trung Lương, chùa ông Núi (Linh Phong) - vốn thu hút đông đảo du khách. Vì thế đây là điểm đến rất thích hợp để tổ chức các chuyến du khảo, dã ngoại về nguồn, đặc biệt là với các bạn đoàn viên, thanh niên. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định.

Gia Lai 3853 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Di tích lịch sử Cây số 7 Tài Lương

Đây là di tích lích sử ghi nhận về cuộc biểu tình (đêm 22 rạng ngày 23/7/1931) của hơn 3000 quần chúng nhân dân huyện Hoài Nhơn đấu tranh phản đối thực dân Pháp và bè lũ tay sai chấm dức đàn áp nhân dân Nghệ Tĩnh và Đức Phổ. Tháng 7 năm 1931, thực hiện chủ trương của Xứ ủy Trung Kỳ, Đảng bộ Hoài Nhơn đã tổ chức vận động quần chúng nhân dân xuống đường đấu tranh phản đối chính sách khủng bố trắng của đế quốc Pháp, đàn áp phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh và nhân dân Đức phổ Quãng Ngãi. Đêm 22 rạng ngày 23/7/1931, đoàn biểu tình hơn 3 nghìn người từ các xã phía Bắc huyện Hoài Nhơn tập trung thành các cánh quân sôi sục tiến về phủ đường Bồng Sơn. Đoàn biểu tình tiến đến đâu đều trấn áp đoàn phu, đốt trụi các điếm canh dọc đường. Khoảng 1h30 sáng ngày 23/7/1931, khi đoàn biểu tình kéo đến Cây số 7 Tài Lương ( xã Hoài Thanh Tây) thì bị binh lính địch chặn lại và đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình. 13 Đảng viên và quần chúng đã hy sinh, một Đảng viên bị kết án tử hình, 3 Đảng viên bị kết án tù chung thân, 20 Đảng viên bị lưu đày lên nhà lao Buôn Mê Thuộc, 11 đồng chí bị đày lên ngục Kon Tum, 47 đồng chí bị giam cầm tại nhà lao Bình Định và hàng trăm quần chúng bị giam cầm tại nhà lao Phù Ly. Cuộc biểu tình đã làm rung chuyển bộ máy tay sai của chính quyền thực dân Pháp. Cuộc biểu tình tiêu biểu cho khí thế đấu tranh của công, nông trong cao trào 1930 - 1931; thể hiện ý chí sắt đá, một lòng kiên quyết bảo vệ và duy trì các phong trào cách mạng trong thời điểm khó khăn, ác liệt nhất của nhân dân Hoài Nhơn nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung. Ngày 26.1.2011, Bộ trưởng Bộ Văn Hóa -Thể Thao &Du Lịch đã có Quyết định số 323 xếp hạng di tích quốc gia cho di tích lịch sử địa điểm lưu niệm cuộc biểu tình năm 1931 tại cây số 7 Tài Lương (xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn). Nguồn Cổng thông tin điện tử thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Gia Lai 3840 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Tháp Đôi (Tháp Hưng Thạnh)

Được xây dựng vào cuối thế kỉ XII, nằm ở phường Đống Đa, TP. Quy Nhơn, là một công trình kiến trúc đẹp và độc đáo gồm hai tháp. Tháp Đôi được xếp vào loại đẹp “độc nhất vô nhị” của nghệ thuật kiến trúc Chămpa. Cả 2 ngôi tháp đều không phải là tháp vuông nhiều tầng theo truyền thống của tháp Chăm mà là một cấu trúc gồm hai phần chính: khối thân vuông và phần đỉnh hình tháp mặt cong, các góc tháp hiện lên những tượng chim thành Garuda hai tay đưa cao như muốn nâng đỡ mái tháp. Vòm trên của các cửa vút cao lên như những mũi tên. Kiến trúc của tháp Đôi chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ giáo. Tháp được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích Kiến trúc Nghệ thuật năm 1980. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định.

Gia Lai 4049 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

ĐỀN THỜ ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN

Đền thờ Đô đốc Bùi Thị Xuân được khởi công xây dựng ngày 20/9/2007 trên khu đất rộng 5.191m2, thuộc khối Phú Xuân, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định; cách di tích lịch sử Từ đường Bùi Thị Xuân khoảng 500 mét về hướng Tây Nam. Đền thờ do Công ty TNHH xây dựng Tân Phương và Công ty TNHH xây dựng Duy Tân phối hợp thi công và khánh thành ngày 10/7/2008. Việc xây dựng Đền thờ Đô đốc Bùi Thị Xuân là thể hiện tấm lòng tri ân, góp phần giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam về truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Đền có diện tích 178 m2, xây dựng theo lối kiến trúc cổ lầu.,có 3 gian.Trong nội thất đặt 3 án thờ: Gian chính giữa đặt án thờ và tượng Đô đốc Bùi Thị Xuân; Tượng làm bằng gốm sứ và dát vàng bên ngoài với tư thế ngồi theo tỉ lệ 1/1 thể hiện thần thái của vị võ tướng văn võ song toàn; hai bên trước án thờ đặt cặp bát bộ binh khí và cặp liễn gỗ cẩn ốc, nội dung như câu đối thờ tại di tích Từ đường Bùi Thị Xuân: Nguyệt chiếu thanh khê lưu cựu hóa Sương kinh cao ngạn thái tiên tình Tạm dịch là: Răng rọi khe xanh in bóng cũ Sương gieo ngàn thẳm chạnh tình xưa. Bên trái án thờ bà là hương án, bên trên có đặt bài vị gia tiên bằng gỗ sơn son thếp vàng. Bên phải án thờ bà là hương án, bên trên có đặt bài vị thờ các tướng lĩnh dưới trướng bà bằng gỗ son thếp vàng. Bùi Thị Xuân sinh trưởng trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước ở làng Xuân Hòa, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay là khối Phú Xuân, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định ). Ông tổ của Bà là Bùi Đắc Thọ là người làng Hội An, huyện Quảng Điền, phủ Nghệ An, di cư vào Đàng Trong lập nghiệp tại ấp Tây Sơn vào cuối thế kỷ XVII. Ông sinh được ba người con trai là Bùi Công Ái, Bùi Công Nghĩa và Bùi Công Minh. Ông Bùi Công Ái sinh ra ông Bùi Đắc Kế là thân sinh của Bùi Thị Xuân. Năm 1771, Bùi Thị Xuân tham gia phong trào khởi nghĩa Tây Sơn và được Nguyễn Nhạc giao trọng trách huấn luyện tân binh, thuần dưỡng voi chiến, Bà đã huấn luyện thuần thục hàng trăm thớt voi chiến, góp phần không nhỏ vào những chiến công vang đội của quân đội Tây Sơn gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp lẫy lừng của người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ sau này. Năm 1778, Bà được Hoàng đế Thái Đức phong chức Đô đốc chỉ huy cấm vệ quân, bảo vệ kinh thành Hoàng Đế (An Nhơn, Bình Định); Từ năm 1786 đến năm 1792, Bà cùng chồng là Thiếu phó Trần Quang Diệu phò tá Nguyễn Huệ tiêu diệt tập đoàn phong kiến Lê -Trịnh, xóa bỏ ranh giới sông Gianh đã chia cắt đất nước hơn 200 năm, đặt cơ sở cho sự nghiệp thống nhất đất nước sau này. Sau khi Quang Trung băng hà, Bà được Cảnh Thịnh giao giữ trọng trách chỉ huy đạo quân cấm vệ bảo vệ kinh đô Phú Xuân. Năm 1802, Bà chỉ huy 5000 quân góp mặt trong trận đánh ở lũy Trấn Ninh (Quảng Bình) khiến quân Nguyễn hết sức khiếp sợ. Chuyện kể rằng: khi đối mặt với vua Gia Long Bà khẳng khái cho rằng: Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc Hà. Bùi Thị Xuân là một nữ kiệt tài sắc vẹn toàn, can trường tiết liệt, Bà đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm thống nhất nước nhà. Tên tuổi Bà đã đi vào lịch sử và mãi mãi là niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam. Bà mất ngày 30/11/1802 tại Phú Xuân (Huế). Hằng năm, vào ngày mùng 6 tháng 11 âm lịch Bảo tàng Quang Trung long trọng tổ chức lễ tưởng niệm Bà, du khách từ mọi miền đất nước về tham dự rất đông và cùng thắp nén tâm hương tưởng nhớ công tích sự nghiệp vị nữ anh hùng, người con ưu tú của quê hương Tây Sơn – Bình Định. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Gia Lai 3698 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Từ đường Võ Văn Dũng và Đền thờ Đại Tư Đồ Võ Văn Dũng.

Từ đường họ Võ nằm cuối thôn Phú Mỹ, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (xưa là thôn Phú Lộc, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn), nơi đây là vùng đất hiểm trở: đất hẹp, dân thưa, núi non trùng điệp, dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông, khai thác lâm thổ sản và săn bắt. Chính quá trình đấu tranh cải tạo thiên nhiên khắc nghiệt để tạo dựng cuộc sống đã tôi luyện con người Phú Lộc đức tính cần cù lao động và tinh thần thượng võ. Võ Văn Dũng được tiếp thu tinh thần thượng võ của quê hương mình nên ngay từ nhỏ ông đã học được nhiều môn võ thuật cổ truyền như: cung, đao, kiếm… truyền thống của quê hương. Ông là người thông minh tài trí, lại giỏi võ nghệ nên Võ Văn Dũng sớm được đứng vào hàng tướng lĩnh của quân đội Tây Sơn, tên tuổi của ông gắn liền với những chiến công oanh liệt của dân tộc thời Tây Sơn. Tộc họ Võ sử dụng nhà từ đường họ để thờ Võ Văn Dũng và đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1988 theo Quyết định số: 1288/Quyết Định -Bộ Văn Hóa , ngày 24/9/1988. Theo quy hoạch, Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh đang có kế hoạch xây dựng mới Đền thờ Võ Văn Dũng trên quê hương của võ tướng, dọc theo con đường đi vào khu du lịch danh thắng Hầm Hô. Để tưởng nhớ, tri ân vị anh hùng, người con của quê hương; tỉnh Bình Định xây dựng đền thờ Đại Tư Đồ Võ Văn Dũng nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đền thờ được khởi công xây dựng ngày 21 tháng 10 năm 2021 trên khu đất rộng 1,05 ha thuộc thôn Phú Lâm, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, cách di tích lịch sử Từ Đường Võ Văn Dũng khoảng 2,5 km về hướng Tây Bắc. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định.

Gia Lai 3913 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Đền Thờ Tăng Bạt Hổ

Đền thờ Tăng Bạt Hổ đã được tộc họ và chính quyền huyện Hoài Ân xây dựng năm 2001, đến năm 2003 được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh. Đến tháng 8/2013 được Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Để tri ân, ghi nhận công lao sự nghiệp của nhà chí sỹ Tăng Bạt Hổ trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp xâm lược, từ năm 2012 đến nay, từ nguồn kinh phí của Nhà nước, sự hỗ trợ của các tổ chức trong nước đã huy động được trên 5 tỷ đồng để nâng cấp Đền thờ Tăng Bạt Hổ trong khuôn viên được quy hoạch 5.300m2 (gấp 10 lần so với trước đây), trong đó diện tích xây dựng đền thờ chính 160m2, cùng nhiều công trình tường rào, cổng ngõ và cảnh quan trong khuôn viên của Đền thờ. Nhà chí sỹ Tăng Bạt Hổ (1858-1906), quê ở làng An Thường, xã Ân Thạnh, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước, lớn lên ông tham gia chiến đấu chống Pháp trong quân đội triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ, tham gia phong trào Cần Vương. Đến khi phong trào Cần Vương ở Bình Định thất bại, ông bôn ba nhiều nơi để tìm đường cứu nước và cuối cùng đã tham gia phong trào Đông Du do cụ Phan Đình Phùng lãnh đạo. Những hoạt động phong phú và đa dạng trong suốt 30 năm, qua 4 thời kỳ cho thấy ông là một nhà yêu nước quật cường, bất khuất, luôn nung nấu ý chí “phục thù báo quốc.” Việc nâng cấp và công nhận Di tích lịch sử cấp quốc gia Đền thờ Tăng Bạt Hổ thể hiện sự đánh giá cao về tầm vóc, những cống hiến lớn lao của nhà chí sỹ yêu nước, chống giặc ngoại xâm để giải phóng dân tộc; qua đó giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Định.

Gia Lai 3863 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở

Chùa Ông

Chùa Ông (Quan Thánh Tự ) tọa lạc tại thị tứ Thu Xà, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, cách thành phố Quảng Ngãi 10km về hướng đông. Chùa được 4 bang người Hoa Minh hương (Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, Quảng Đông) sống tại vùng Thu Xà kiến lập vào năm Minh Mạng thứ hai (1821) và đã trải qua 4 lần trùng tu vào các năm 1881, 1894, 1920, 1991. Chùa Ông thờ Quan Vũ ở gian chính điện, thờ Quán Thế Âm Bồ Tát (người vùng biển Trung Hoa và Việt Nam gọi là Phật Quan Âm Nam Hải) ở gian hậu cung theo mô hình “Tiền thánh hậu phật”. Ngoài ra ở hậu cung còn thờ Thiên Hậu, Kim Đẩu và 12 bà mụ. Về quy mô, tuy chùa Ông có vẻ khiêm nhường so với các ngôi chùa thờ Quan Công ở Hội An (Quảng Nam), nhưng ở đây có sự kết hợp hài hòa các yếu tố kiến trúc Hoa – Việt trong một tổng thể giàu tính thẩm mỹ. Theo hồ sơ của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, chùa có tổng diện tích 2.730m2, bao gồm vườn chùa, tam quan, sân chùa và chùa. Tất cả được bao bọc bởi vòng 1, thành cao 1,2m, dày 0,5m theo kiểu chấn song con tiện. Chùa quay mặt về hướng đông. Từ ngoài vào, các công trình kiến trúc được bố trí trên một trục đạo, bố cục chặt chẽ, đăng đối theo tuần tự gồm: cổng tam quan, bình phong - trụ biểu, lầu trống - lầu chuông và chùa. Hai bên mặt tiền có hai cổng phụ thấp, phía sau chùa là miếu thờ Tiêu Diện Đại Sỹ. Cổng tam quan cấu trúc một gian, bốn cột, hai bộ vì chống rường trái bí, theo lối tam hoành. Hoành thứ 3 uốn cong hình thuyền trang trí đầu rồng đuôi phượng. Các hoành liên kết với nhau qua các vì chồng và gác qua đầu cột. Mái tam quan lợp ngói âm dương, đỉnh mái uốn cong dáng thuyền, trang trí hình rồng, đuôi phủ dây leo thực vật. Bờ mái trang trí dạng ô hộc với năm ô trang trí. Hai bên tả hữu cổng tam quan là miếu thờ bà Thiên Hậu. Bình phong cao 2m, bằng tam hợp chất, mặt trước đắp nổi hình mãnh hổ nhe răng vểnh đuôi trông rất sống động, mặt sau đắp nổi hình con ly trên cụm mái. Hai bên bình phong là hai trụ biểu. Lầu chuông, lầu trống xây dựng đăng đối qua trục đạo. Chùa Ông hiện còn giữ 6 bia đá, văn bia chữ Hán, tạo dựng vào các năm 1895 (Thành Thái thứ 7 ), 1920 (Khải Định thứ 5), là các năm chùa trùng tu. Bia đá trang trí chạm nổi lưỡng long tranh châu ở trán bia, diềm bia trang trí đầu rồng mình quấn dây leo thực vật. Văn bia ghi lại danh sách những người cúng tiền trùng tu gồm tên người, nơi ở, số tiền cúng. Nhìn chung, nghệ thuật trang trí ở chùa Ông đạt đến trình độ khá tinh xảo, đặc biệt là kỹ thuật đắp nổi, chạm nổi, chạm thủng, chạm lộng trên các bình phong, vách gỗ, khám thờ, vì kèo, bẫy hiên, trụ chồng, tượng, diềm bia...Chùa Ông có sự giao thoa, kết hợp hài hòa các yếu tố kiến trúc của người Việt và người Hoa. Bên cạnh cấu kiện và vật liệu chủ yếu của nhà rường truyền thống ở miền Trung (các vì kèo chồng rường chày cối, vì kèo chồng rường giả thủ) còn có sự xuất hiện vì kèo trốn trính chuyền của đồng bằng Bắc Bộ và bộ vì kèo chồng rường trái bí phong cách Hoa Bắc. Chùa Ông được Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận Di tích quốc gia theo quyết định số 43 Văn Hóa /Quyết Định ngày 7/1/1993. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi 3131 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia. Mở